VAN BUT VIET NAM HAI NGOAI

CHIA BUON

NHA
BAN CHAP HANH
LIEN LAC
Gia Nhap Van But
THONG TIN
HOI LUAN
THU MOI
KHOA HOC, KIEN THUC
Dan Chu Tu Do
Tac gia tac pham
NIEN LIEM
Ung Ho
Canh Giac
Dong Y Tay Y
Video
Quoc Gia Viet Nam
International Pen
CHUC MUNG
CHIA BUON

 

INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 066Nk14-17
 
Phân Ưu

Ðược tin buồn Thân  mẫu  của  Nữ    Bích  Ty và  cũng là  Nhạc mẫu của VH BS Phạm Nguyên Lương,  
Cựu  Ðệ Nhị  Phó Chủ Tịch BCH VBVNHN là:

Cụ Bà Ðào Xuân Ðàm
Khuê danh Phạm Thị Cài
Pháp danh: Diệu Bình

Ðã  mãn phần Tại Garden Grove Medical Center, California , USA lúc 9:40 PM ngày 5 tháng 12 năm 2015 (nhằm ngày 24 tháng 10 năm Ất Mùi)

Hưởng  thượng  thọ 92 tuổi

Xin chia buồn cùng Nữ sĩ Bích Ty, Bác Sĩ Phạm Nguyên Lương, và Tang Quyến .
Nguyện cầu hương linh Cụ bà Ðào Xuân Ðàm sớm tiêu diêu Miền Cực Lạc.

BCH Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Trần Minh Hiền,
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân.

ÐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

 

INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 067Nk14-17
 
Phân Ưu

Vô cùng thương tiếc được tin

Cựu Hải Quân Trung Tá
PHẠM VĂN HƯNG
Khóa 11 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.

tức Nhà Văn/Nhạc Sỹ Thụy Lữ
Cựu Tổng Thư Ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại/Vùng Ðông Nam Hoa Kỳ

Ðã từ trần ngày 7 tháng 12 năm 2015
Tại Pinellas Park, Florida, Hoa Kỳ

Hưởng Thọ 73 tuổi

Chân thành chia buồn cùng bà Phạm Văn Hưng và Tang Quyến

Nguyện cầu hương linh Nhà Văn/Nhạc Sỹ Thụy Lữ  Phạm Văn Hưng sớm tiêu diêu Miền Cực Lạc

Ban Chấp Hành VBVNHN
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Trần Minh Hiền
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân

ÐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

 

INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 065Nk14-17
 
Phân Ưu

 

Ðược tin buồn hiền thê của VH Nguyễn Ngọc Mẫn là

Nguyễn Thị Tuyết Sương
Pháp danh: Quảng Huệ An

Ðã mãn phần vào lúc 5:30 AM ngày 02 tháng 12 năm 2015 tại tư gia, thành phố
Santa Ana, Caliofornia, Hoa Kỳ.

Thành kính Chia Buồn cùng VH Nguyễn Ngọc Mẫn và Tang Quyến
Nguyện cầu Hương Linh người quá vãng sớm tiêu diêu miền cực lạc.

Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Trần Minh Hiền
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân

Ðồng Thành Kính Phân Ưu
  

 
INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 058Nk14-17
 
Chia Buồn

 Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vô cùng thương tiếc được tin:

Ông Ðoàn Thế Nhơn
Tức Nhà Văn Võ Phiến
Pháp danh Nhật Trí
Cố Vấn Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Ðã mệnh chung lúc 7 giờ chiều ngày 28 tháng 9 năm 2015
tại Orange County, California, Hoa Kỳ

Hưởng thọ 90 tuổi

Chúng tôi xin thành kính chia buồn cùng Bà quả phụ Ðoàn Thế Nhơn, nhũ danh Võ Thị Viễn PhốTang quyến.
Nguyện cầu hương linh Nhà Văn Võ Phiến sớm được tiêu diêu miền Cực Lạc.

Ban Chấp Hành và Toàn thể Thành Viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Trần Minh Hiền, Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân.

ÐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

 

INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 057Nk14-17
 
Phân Ưu

Nhận được tin buồn Thân phụ của VH Dược Sĩ Minh Ngọc,
Chủ tịch Hội Y Nha Dược Sĩ Florida
Thành viên Ban Giám Sát Văn Bút VNHN/Vùng Ðông Nam Hoa Kỳ là:

Cụ ông TRẦN CAO MINH
từ trần ngày 21 tháng 9 năm 2015 tại thành phố Dallas, Texas, Hoa Kỳ.
Hưởng thọ 80 tuổi

Chúng tôi xin thành kính chia buồn cùng VH DS Minh Ngọc và Tang quyến.
Nguyện Cầu Hương linh cụ ông Trần Cao Minh sớm phiêu diêu miền cực lạc

Ban Chấp Hành và Toàn th Thành viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Trần Minh Hiền
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân
Ðồng Thành Kính Phân Ưu

 

INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 054Nk14-17
 
Phân Ưu
Inline image
Nhận được tin buồn Thân mẫu của Nhà thơ Ðình Duy Phương, Phó Chủ Tịch Nội vụ Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại/Vùng Tây Nam Hoa Kỳ và là Nhạc mẫu của Ông Trịnh Ngọc Luyện là:

Cụ bà Maria Nguyễn Thị Lan Phương
Tức Nữ Sĩ Lan Phương

vừa được Chúa gọi về lúc 06 giờ 45 ngày 20 tháng 8 năm 2015 (Nhằm ngày 13 tháng 7 năm Ất Mùi)

hưởng Thượng thọ: 95 tuổi

Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và toàn thể Thành viên xin chia buồn cùng Nhà thơ Ðình Duy Phương và Tang Quyến.

Nguyện cầu hương linh Cụ Bà Maria Nguyễn Thị Lan Phương sớm được hưởng nhan Thánh Chúa.

Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Trần Minh Hiền
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân.

Ðồng Thành Kính Phân Ưu

 

INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 042Nk14-17
 
CHIA BUỒN
Inline image
 
Vừa nhận được tin buồn Hiền Thê của Thi Sĩ Lão Thành Hoa Văn,
Cố VấnVBVNHN/Vùng Ðông Nam Hoa Kỳ là:

Cụ Bà NGUYỄN THị NHUNG
Pháp Danh Nguyên Phụng

Ðã mãn phần lúc 9:50 phút tại Bệnh Viện St Mary, Tiểu Bang Virginia.

Hưởng Thọ 83 Tuổi
 
Linh cữu hiện quàn tại Nhà Quàn West Chapel , 11020 West Broad Street,
Allen Glen, VA23060. ÐT: (804) 270-3060.

Xin thành kính phân ưu cùng Thi Hữu Hoa Văn và Tang Quyến.
Nguyện cầu hương linh cụ bà Nguyễn Thị Nhung sớm tiêu diêu Miền Cực Lạc.
 
Ban Chấp Hành và Toàn Thể Thành viên VBVNHN
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Trần Minh Hiền,
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân

Ðồng Thành Kính Phân Ưu.

 

INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 032 Nk14-17
 
Phân Ưu

                     

Ðược tin buồn Hiền Muội của BS Phạm Nguyên Lương, Nguyên Ðệ Nhị Phó Chủ Tịch Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Nhiệm kỳ 2011-2014, và cũng là Phu Nhân của Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Châu là
DƯỢC SĨ  NGUYỄN PHẠM MINH TÂM
Pháp danh Diệu Khai
đã tạ thế ngày 13 tháng 4 năm 2015,
Hưởng thọ 72 tuổi
Xin chia buồn cùng BS Phạm Nguyên Lương và Tang quyến.
Nguyện cầu hương linh người quá vãng sớm tiêu diêu miền Tiên Cảnh.
BCH Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Trần Minh Hiền
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân
Ðồng Thành KÍNh Phân Ưu 

 

INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 025 Nk14-17
 
Phân Ưu
                                                                                Inline image

Ðược tin buồn hiền thê của Nhà Thơ Nguyên Hà Võ Văn Viên,
Cựu Chủ Tịch VBVNHN/Vùng ÐÔNG NAM HOA KỲ là:

Cụ Bà TRẦN THỊ HƯỜNG
Pháp Danh TÂM HƯƠNG

Đã từ trần vào lúc 2giờ 05 phút chiều ngày 14 tháng 03 năm 2015 tại Tampa, Florida.

Hưởng Thọ: 84 tuổi.

Thành kính chia buồn cùng Thi Sĩ Nguyên Hà Võ Văn Viên và Tang Quyến.
Nguyện cầu hương linh cụ bà Trần Thị Hường sớm về cõi vĩnh hằng.
 
BCH VBVNHN

Vũ Văn Tùng, Nguyễ Thế Giác, Trần Minh Hiền
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân

Ðồng Thành Kính Phân Ưu

 

INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 025 Nk14-17
 
Phân Ưu
                                                                                Inline image

Ðược tin buồn hiền thê của Nhà Thơ Nguyên Hà Võ Văn Viên,
Cựu Chủ Tịch VBVNHN/Vùng ÐÔNG NAM HOA KỲ là:

Cụ Bà TRẦN THỊ HƯỜNG
Pháp Danh TÂM HƯƠNG

Đã từ trần vào lúc 2giờ 05 phút chiều ngày 14 tháng 03 năm 2015 tại Tampa, Florida.

Hưởng Thọ: 84 tuổi.

Thành kính chia buồn cùng Thi Sĩ Nguyên Hà Võ Văn Viên và Tang Quyến.
Nguyện cầu hương linh cụ bà Trần Thị Hường sớm về cõi vĩnh hằng.
 
BCH VBVNHN

Vũ Văn Tùng, Nguyễ Thế Giác, Trần Minh Hiền
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân

Ðồng Thành Kính Phân Ưu

 

INTERNATIONAL PEN
VIETNAMESE ABROAD PEN CENTRE
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
Thông Báo 022Nk14-17
 
Chia Buồn
 
 
Ðược tin buồn Thân Mẫu của VH Nguyễn Xuân Chiểu, bút hiệu Y Cao Nguyên, hội viên VBVNHN/Vùng Tây Nam Hoa Kỳ là
 
Cụ bà quả phụ Nguyễn Văn Cn
Nhũ danh Dương Thị Th Ư
Pháp Danh  Diệu Thu
 
Đã mệnh chung vào hồi 11 giờ 08 phút tối ngày 1 tháng 03 năm 2015 (nhằm ngày 11 tháng giêng năm Ất Mùi) tại Thành Phố Fountain Valley, California, USA.
 
Hưởng Ðại Thọ: 104 tuổi.
 
Xin chia buồn cùng anh chị Nguyễn Xuân Chiểu-Vũ Thị Thuần và Tang Quyến.
Nguyện cầu hương linh người quá vãng sm tiêu diêu miền cực lạc.
 
BCH VBVNHN
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Trần Minh Hiền
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân
 
Ðồng Thành Kính Phân Ưu
 
 

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
 
Chia Buồn
Ðược tin buồn Thân mẫu của chị Lệ Hoa và cũng là Nhạc mẫu của VH Việt Hải vừa mãn phần.

Ðây là một mất mát lớn lao đối với Anh Chị Việt Hải-Lệ Hoa

Thành kính phân ưu cùng anh chị Việt Hải và Tang quyến.

Nguyện cầu hương hồn người quá vãng sớm tiêu diêu miền cựu lạc.

Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Phạm Nguyên Lương, Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân, Trần Ðức Hân, Mai Thanh Truyết, Lê Anh Dũng, Vũ Tuyết Yên, Nguyễn Hữu Của và các Văn hữu Vùng Tây Nam Hoa Kỳ.

Ðồng Thành Kính Phân Ưu

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
Federal Tax ID: 90-09164... Public Charity Status
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
Thông Báo 158
 
Chia Buồn

Ðược tin buồn phu quân của VH Hải Yến là

Ông LÊ QUỐC THẮNG

Đã từ trần lúc 11 giờ sang ngày 07 tháng 06 tại San Diego, Hoa Kỳ

Hưởng thọ 72 tuổi.

Ông Lê Quốc Thẳng là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.

Thành kính phân ưu cùng VH Hải Yến và Tang quyến

Chúng tôi thành tâm nguyện cầu ông LÊ QUỐC THẮNG, nhờ ơn Ðức Phật từ bi cứu độ vong linh được thoát chốn mê đồ, vãng sanh miền cựu lạc.

Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Phạm Nguyên Lương, Ðinh Mộng Lân,Vũ Thùy Nhân (VBVNHN)

Trần Ðức Hân, Mai Thanh Truyết, Lê Anh Dũng, Vũ Tuyết Yên và

Thành Viên VBVNHN/Vùng Tây Nam Hoa Kỳ.

Ðồng Thành Kính Phân Ưu. 

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
 
Phân  Ưu


Ðược tin Thân Mẫu Phu Quân Hội Trưởng Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương
Nam California  Vương Ðỗ Mai Phương là

Cụ quả phụ Vương Xuân Khôi
Nhũ danh Dương Thị Vinh
Pháp danh Ðạo Tâm

Ðã từ trần lúc 5:300 chiều ngày 05 tháng 06 năm 2014
(Nhằm ngày 08 tháng 06 năm Giáp Ngọ)
Tại Orange County, California
Hưởng Ðại Thọ 102 tuổi

Thành kính chia buồn cùng anh chị Vương Xuân Ðiềm-Ðỗ Mai Phương và tang quyến.
Nguyện cầu hương linh cụ bà Vương Xuân Khôi sớm tiêu diêu miền Cực Lạc.

Ban Chấp Hành và toàn thể thành viên VĂn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Phạm Nguyên Lương,
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân

Ðồng Thành Kính Phân Ưu.

 

vuquangninh.jpg
Le gio vu quang ninh 2014 Giap Ngo
vuquangninh1.jpg
vuquangninh3.jpg

Ba hình trên quang cảnh lễ giỗ một năm 2014 Giáp Ngọ ông Vũ Quang Ninh, sáng lập viên đài Little Saigon Radio Miền Nam California USA tai Hội Trường Phòng Hội 8200 Westminster Blvd Westminster ngày 11/3/2014 có sự tham dự của VBVNHN

 

NHẬN ĐƯỢC TIN BUỒN THÂN MẪU CỦA ANH XUÂN THANH VÀ NHÃ LAN, CŨNG LÀ MẸ CHỒNG CỦA CA SĨ LAN HƯƠNG LÀ:
                                                BÀ  QUẢ PHỤ NGUYỄN VĂN THUẤN
                                                NHŨ DANH ANNA TẠ THỊ TƯ
  ĐàĐƯỢC CHÚA GỌI VỀ NGÀY 18 THÁNG GIÊNG NĂM 2014 TẠI SANTA ANA,CALIFORNIA. HƯỞNG THỌ 86 TUỔI.
 HỘI ĐỒNG HƯƠNG VÀ THÂN HỮU THÁI BÌNH HẢI NGỌAI THÀNH KÍNH CHIA BUỒN CÙNG ANH CHỊ XUÂN THANH-LAN HƯƠNG ,XƯỚNG NGÔN VIÊN NHÃ LAN CÙNG TOÀN THỂ TANG QUYẾN.
 NGUYỆN CẦU LINH HỒN CỤ BÀ SỚM VỀ HƯỞNG NHAN THÁNH CHÚA.
            THÀNH KÍNH PHÂN ƯU.
         HỘI TRƯỞNG : ĐÀO BÍCH TY VÀ  TOÀN THỂ ĐỒNG HƯƠNG THÁI BÌNH. 

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
 
Chia Buồn

Ðược tin buồn hiền nội của Nhà Văn Ðặng Tường Hân tức ký giả Trường Kỳ,
Thủ Quỹ của Ban Ðại Diện Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại/Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ là Bà

Lucia Huỳnh Thị Ðiệp

Cựu Nữ Hộ Sinh Quốc Gia
vừa được Chúa gọi về lúc 11 giờ 45  sáng ngày 19 tháng 01 năm 2014 tại San José

Hưởng Thọ 66 tuổi
Thành kính phân ưu cùng Văn Hữu Trường Kỳ và tang quyến
Nguyện cầu hương linh bà Lucia Huỳnh Thị Ðiệp sớm hưởng Nhan Thánh Chúa.
Ban Chấp Hành và toàn thể thành viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Ðồng Thành Kính Phân Ưu
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Phạm Nguyên Lương
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân
Tung Van Vu INTERNATIONAL PEN VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC) VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN) 8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
To VBVNHN2011@yahoogroups.com
Today at 3:32 PM
 

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
 
Chia Buồn

Ðược tin buồn hiền nội của Nhà Văn Ðặng Tường Hân tức ký giả Trường Kỳ,
Thủ Quỹ của Ban Ðại Diện Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại/Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ là Bà

Lucia Huỳnh Thị Ðiệp

Cựu Nữ Hộ Sinh Quốc Gia
vừa được Chúa gọi về lúc 11 giờ 45  sáng ngày 19 tháng 01 năm 2014 tại San José

Hưởng Thọ 66 tuổi
Thành kính phân ưu cùng Văn Hữu Trường Kỳ và tang quyến
Nguyện cầu hương linh bà Lucia Huỳnh Thị Ðiệp sớm hưởng Nhan Thánh Chúa.
Ban Chấp Hành và toàn thể thành viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Ðồng Thành Kính Phân Ưu
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Phạm Nguyên Lương
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân 

 

   Được tin Cụ Ông Nguyễn Văn Lại, thân phụ của nhà văn Ngọc Anh , nguyên Phó Chủ Tịch Văn Bút  Việt Nam Hải Ngoại và nhà thơ Miên Kim, hội viên Hội Nhà Văn Lưu Vong, đã từ trần ngày 13 tháng 1 năm 2014 tại Virginia, Hoa Kỳ.

Hưởng dương 90 tuổi.

 

Ban Đại Diện và toàn thể hội viên VBVNHN Vùng Canada thành kính phân ưu cùng văn hữu Ngọc Anh và Miên Kim.

   

Cầu nguyện linh hồn Cụ Ông Nguyễn Văn Lại sớm được hưởng nhan Thánh Chúa.

                                       

TM Ban Đại Diện

Tống Minh Long Quân


--
Tong Minh Long Quan

__._,_.___

 

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
Phân Ưu

Ðược tin buồn Thân Phụ của VH Ngọc Anh, cựu Phó Chủ Tịch VBVNHN và VH Miên Kim Hội viên của
Hội Nhà Văn Lưu Vong, là

Cụ Ông Nguyễn Văn Lại

vừa được Chúa gọi về  ngày 13 tháng 01 năm 2014 từ Virgina Hoa Kỳ

Hưởng thọ 90 tuổi.
Thành kính chia buồn cùng VH Ngọc Anh và VH Miên Kim và tang quyến. Nguyện cầu hương linh
người quá vãng sớm hưởng nhan Thánh Chúa.

Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và toàn thể thành viên
Ðồng Thành kính phân ưu

Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Phạm Nguyên Lương
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân
 
Thinh Van VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI VÙNG ĐÔNG NAM HOA KỲ. 5624 Pendleton Dr. Orlando, FL 32839. E-mail: vinhho09@yahoo.com Phân Ưu Ðược tin buồn Thân Phụ của VH Ngọc Anh, cựu Phó
To VBVNHN2011@yahoogroups.com
Today at 4:15 PM
 

 



VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
VÙNG ĐÔNG NAM HOA KỲ.
5624 Pendleton Dr. Orlando, FL 32839.
 
Phân Ưu
 
Ðược tin buồn Thân Phụ của VH Ngọc Anh, cựu Phó Chủ Tịch VB/VNHN và VH Miên Kim Hội viên
Hội Nhà Văn Lưu Vong, là
 
Cụ Ông Nguyễn Văn Lại
 
vừa được Chúa gọi về ngày 13 tháng 01 năm 2014 từ Virgina Hoa Kỳ
 
Hưởng thọ 90 tuổi.
Thành kính chia buồn cùng VH Ngọc Anh, VH Miên Kim, cùng tang quyến.
Nguyện cầu hương linh
người quá csớm về Nước Chúa.
 
Thành kính phân ưu,
Orlando, 17/1/2014
Ban Đại Diện Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại / Vùng Đông Nam Hoa Kỳ:
Vinh Hồ, Vũ Quang Minh, Thanh Sơn, Phạm Bá Phú, Tuyết Nga.
 
 

 2013/12/28 Cao Minh Hung <anthonyhungcao@gmail.com>
Xin gửi chia sẻ đến quý vị và các anh chị một vài hình ảnh trong buổi lễ tưởng niệm Ca Nhạc Sĩ Việt Dzũng do SBTN -TV tổ  chức.

"...Tôi rất ngạc nhiên khi thấy Anh đến tham dự buổi Đệ Tam Chu Niên của CLB Tình Nghệ Sĩ vào tháng Ba năm nay. Tôi biết Anh đang bận rộn chuẩn bị cho các chương trình ngày Quốc Hận 30 tháng Tư sắp tới, nên tôi không ngờ Anh đã đến. Anh ngồi lặng lẽ ở góc phải của sân khấu. Khi tôi vừa xong trên sân khấu và bước đến chào Anh, Anh xiết chặt tay tôi và nói "Anh muốn cùng em tổ chức thêm những chương trình văn nghệ đấu tranh như các anh chị em trong CLB TNS đã và đang làm..." 

Nay thì Anh đã vĩnh viễn rời xa chúng ta. Ngọn lửa nhiệt huyết đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền của Anh chắc chắn sẽ được nhiều người, trong đó có các anh chị em trong Ban Hợp Ca của CLB TNS, tiếp tục thắp sáng với những bài hát đấu tranh cho quê hương Việt Nam đến ngày dân chủ, nhân quyền như mơ ước của Anh... " (Cao Minh Hưng)







 




 




 



 




 





Tưởng nhớ đến người chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ nhân quyền cho quê hương Việt Nam - Ca Nhạc Sĩ Việt Dzũng

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
Chia Buồn,

Vừa nhận được tin buồn Nhạc sĩ, Ca sĩ Việt Dzũng đột ngột qua đời lúc 11:15 ngày 20 tháng 12 năm 2013 tại bệnh viện Fountain Valley, California.

Nói đến Việt Dzũng người ta thường nhớ đến Radio Bolsa. Radio Bolsa là một cơ quan truyền thông do Việt Dzũng và Minh Phượng thành lập vào ngày 3 tháng 02 năm 1993.

Việt Dzũng là một ca sĩ và nghệ sĩ. Anh đã sáng tác nhiều nhạc phẩm tranh đấu nổi tiếng. Ngoài ra Việt Dzũng còn hợp tác với nhiều các cơ quan truyền thông và điện ảnh khác tại Nam California.  

Việt Dzũng ra đi là một mất mát lớn lao của người Việt hải ngoại.

Thành kính phân ưu cùng tang quyến và nguyện cầu hương linh người quá vãng sớm tiêu diêu miền cực lạc.

Thay mặt Ban Chấp Hành và toàn thể văn thi hữu Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đồng thành kính phân

ưu.

Vũ Văn Tùng
 



 

__._,_.___

            VBVNHN thành thật chia buồn.

 

Xin kính gửi lời chia buồn và thành kính phân ưu đến NV Trường Sơn Lê Xuân Nhị cùng tang quyến.  Xin nguyện cầu cho linh hồn Cụ Ông sớm vui hưởng Nhan Thánh Chúa.

Thân kính,
Cao Minh Hưng


2013/12/16 Tong Minh Long Quan <tongminhlongquan@gmail.com>
 

 

Nhận được tin buồn:

 


Thân phụ của văn hữu Trường Sơn Lê Xuân Nhị,


Hội viên Văn Bút VNHN - Khu vực Louisiana



Cụ Ông Gioan Baotixita

Lê Xuân Hồng

 

Vừa từ trần ngày 11 tháng 12 năm 2013 tại New Orleans, LA

Hưởng thượng thọ 94 tuổi

 

Thành kính phân ưu cùng gia đình TS Lê Xuân Nhị

Và toàn thể tang quyến

Nguyện cầu linh hồn Cụ Ông sớm vui hưởng Nhan Thánh Chúa


Đại diện Văn Bút VNHN – Khu vực Canada

Tống Minh Long Quân


 



 

 



2013/12/13 tgm <tgm@tx.rr.com>
 

 

Nhận được tin buồn:

Thân phụ của văn hữu Trường Sơn Lê Xuân Nhị,

Hội viên Văn Bút VNHN - Khu vực Louisiana

Biên tập viên tạp chí Thế Giới Mới, là

 

 

Cụ Ông Gioan Baotixita

Lê Xuân Hồng

 

Vừa từ trần ngày 11 tháng 12 năm 2013 tại New Orleans, LA

Hưởng thượng thọ 94 tuổi

 

Thành kính phân ưu cùng gia đình TS Lê Xuân Nhị

Và toàn thể tang quyến

Nguyện cầu linh hồn Cụ Ông sớm vui hưởng Nhan Thánh Chúa

 

Tạp chí Thế Giới Mới & www.thegioimoionline.com

Gia đìnhVõ Văn Ân, Gia đình Trương Sĩ Lương

 

 

 

 




--
Tong Minh Long Quan

 

 

VBVNHN thành thật chia buồn: 

Dec 9 at 7:23 PM
 

 

    Nhận được tin buồn,
Thân phụ của văn hữu Đoàn Hữu Định, hội viên Văn Bút VNHN Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Chủ Tịch Cộng Đồng vùng Hoa Thịnh Đốn là :
     Cụ Ông ĐOÀN HỮU HIẾU, Pháp danh Thiện Hạnh, đã từ trần ngày 8 tháng 12 năm 2013, tại Virginia, Hoa Kỳ,hưởng thượng thọ 93 tuổi.
    Toàn thể hội viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại/ Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ thành kính PHÂN ƯU cùng văn hữu Đoàn Hữu Định và tang quyến.
     Cầu nguyện Hương Linh cụ Ông ĐOÀN HỮU HIẾU Pháp Danh Thiện Hạnh sớm được vãng sanh miền Cực Lac.

                    Ban Đại Diện và toàn thể hội viên VBVNHN Vủng ĐBHK
Trần Quốc Bảo, Bùi Dương Liêm,Cao Nguyên ,Cung Lan,Diệm Trân, Đăng Nguyên,Hồng Thủy, Lãm Thúy,Lê Tấn Khải,Lê thị Nhị, Lê Thị Ý, Lê Tống Mộng Hoa,Ngô Thy Vân, Nguyễn Thị Bé Bảy,Ngọc Hạnh, Nhất Minh,Tạ Cự Hải,Đào Trường Phúc, Hoàng Song Liêm,Vũ Hối.Luân Tâm, Nghiêu Minh,Quốc Hưng, Xuân Lan.
__._,_.___
Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (33

 

Văn Tế cố TT Ngô Đình Diệm
(Nhân dịp 50 năm tưởng niệm tại hải ngoại – 2013)
*************
 

Nhớ linh xưa:
Phủ Cam đất cũ, âm thầm khởi nghiệp mười lăm năm ra công đổ sức, mở lối dân quyền;
Gia Định miền xưa, uy dũng chuyên tâm, suốt chín năm tận lực miệt mài, phục hưng nhân vị. 
Chiến lược kia con cháu phát huy; Nhân dũng nầy giống nòi mến mộ.
Bao năm quốc thổ an bình, miền Nam Việt sáng ngời Đông Á;
Mấy lúc quân dân thịnh vượng, nền Cộng Hòa nức tiếng năm Châu.
Trên Cao Nguyên cương thổ, ruộng rẩy dinh điền tươi tốt quanh năm;
Dưới Cửu Long chín khúc, đồng lúa nuôi dân gạo thừa xuất cảng.
Trong giữ gìn quốc thể, ngoài bình đẳng lân bang; Chẳng cho phép Tây, Tàu đồng hóa; Vững chủ quyền giao hảo đồng bang.
Hùng cứ phương Nam; Oai danh đất Viêt.
Giữa nguy nàn, nhất thống quân binh ban hành ước pháp lập nước Cộng Hòa; Trong gian hiểm, kết hợp toàn dân lập nền chính vận tạo thế Quốc Gia.
Kế thế hưng bang, nối chí Lý, Trần, Lê, Nguyễn, bao anh hùng vào sanh ra tử, giữ cho cõi giang sơn bền vững vẹn toàn;
Vun bồi xã tắc, noi gương Trưng, Triệu, Ngô, Đinh, lắm hào kiệt trùng trùng khí thế, dựng nên bao công nghiệp uy dũng vang lừng. 
Sóng phế hưng dù đảo lộn, trời Nam còn riêng cõi, chim Việt vẫn chung bầy, tâm hào kiệt ngập tràn quốc thổ;
Nền xã tắc dẫu an nguy, đất Việt vẫn vẹn toàn, cành Nam thêm anh túc, đức nhân hòa sáng tỏa cổ kim.
Lấy sức toàn dân vận trù quyết sách, phá giặc nội xâm Lê-Mác tà gian;
Đem tài cả nước khai dụng đấu tranh, giải thể gian nhân Hồ-Mao giặc dữ.
Bởi chưng:
Loài phản phúc quên gương Hồng Lạc, cõng rắn cắn gà nhà, luồn cúi Mỹ bang, mê đắm bả vinh hoa, rắp tâm lật đổ chính tình, khuấy đục chính trường chỉ vì tư lợi;
Lũ cuồng nô ăn phải bả Mác-Lê, cầu Tàu giết đồng hương, cấu kết Mỹ-Hoa, đành lòng mưu sát minh quân, tranh giành quyền lực làm đảo điên xã tắc một thời.
Nên:
Rồng thiên gãy cánh, dinh lũy tan tành, đành tuẩn quốc một lòng huynh đệ; Hào kiệt sa cơ, vận nước bi ai, đồng hiến thân tựu nghĩa.
Than ôi! chốn Nam bang thiên địa thảm sầu, phường võ dõng được thời thính chính, gây nhiểu nhương loạn lạc, lợi cho lũ siêu cường xâu xé nhà Nam.
Thế đó! ngoài Bắc địa Hồ binh hớn hở, lũ Hồ-Mao vùng dậy lăng xăng, tạo rối ren khủng bố, toa rập bọn ngoại bang mượn cớ điều quân vào nước Việt.
Cho nên, thế sự rối ren đến hồi mất nước;
Cộng nô hà chính áp bức dân lành.
Bởi đâu nên nỗi !!!.
Nay cúi xin:
Chí sĩ anh linh về đây chứng giám, tạ công đức anh hào, nước nhà xin sạch bóng hung nô;
Hào kiệt thấu tình nhậm lễ niệm hương, nền thịnh trị nhân hòa, cơ đồ nguyện giữ gìn vạn đại.
Hôm nay đây, lòng thành tưởng niệm, kính dâng lễ bạc, duy khiết duy tinh, trước đài tưởng niệm bái lạy tiên linh, lai lâm chứng giám, ban ân phù hộ, Việt Nam thái bình.
Đồng khấu bách bái,
Cung duy thượng hương.
__._,_.___

 

PHÂN ƯU
 
Vừa nhận được tin buồn thân phụ của 
Dược Sĩ Ðoàn Quế Anh và cũng là Nhạc phụ của Thị Trưởng thành phố Westminster Tạ Ðức Trí là:
 
Cụ Ông Phanxicô Xaviê
 
ĐOÀN TRỌNG CẢO

Cựu Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh 
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến, Quân Lực VNCH
 
Nguyên Tổng Hội Trưởng Thủy Quân Lục Chiến
Nguyên Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California
Nguyên Hội Trưởng Thủy Quân Lục Chiến Nam California
Nguyên Hội Trưởng Hội Pháo Binh
 
Đã được Chúa gọi về lúc 11 giờ 45 phút tối Thứ Hai ngày 2 tháng 09, năm 2013
 (nhằm ngày 27 tháng Bẩy âm lịch năm Quý Tỵ) tại bệnh viện Fountain Valley, California.
 
HƯỞNG THỌ 80 TUỔI.
 
Thành kính phân ưu cùng anh chị Tạ Đức Trí - Đoàn Quế Anh cùng toàn thể tang quyến.
 
Nguyện cầu hương linh Cụ Ông sớm hưởng nhan Thánh Chúa.
 
 
 
 VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI và văn bút VÙNG TÂY NAM HOA KỲ
 
 
 
 
ĐỒNG THÀNH  KÍNH PHÂN  ƯU

đẠI DIỆN
Đinh-Mộng-Lân
LETAMANH
tỔNG THƯ KÝ

__._,_.___

 

Re: Phân Ưu Washington DC
 
Được tin bào đệ của MC Diệu Quyên là:
 
Phêrô NGUYỄN KHOA QUYẾN
được Chúa gọi về ngày 27 tháng 8 năm 2013
tại Washington DC
Hưởng Dương 46 tuổi
 
Thành thật phân ưu cùng Diệu Quyên và Trúc Hồ cùng toàn thể tang quyến về sự ra đi của người em thân yêu, nguyện cầu Chúa Cha nhân từ sớm đưa linh hồn Phêrô về an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.
 
Anh Bằng, Lê Dinh, Lê Văn Khoa, Nguyễn Thanh Liêm, Phạm Cao Dương, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Trần Huy Bích, Trần Thanh Hiệp, Lưu Trung Khảo, Nguyễn Thanh Trang, Nguyễn Văn Sâm, Dương Ngọc Sum, Đào Đức Nhuận, Nguyễn Quang Huy, Minh Đức Hoài Trinh, Quyên Di, Nguyễn Hạnh Nhơn, Khúc Minh Thơ, Huy Phương, Chu Bá Yến, Trần Quang Hải, Bạch Yến, Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Lê Trọng Nguyễn Nga, Nguyễn Trọng Nho, Vân Bằng, Khổng Trọng Hinh, Ngọc Loan, Việt Dzũng, Minh Phượng, Nam Lộc, Lê Tuấn, Huỳnh Kỳ Phát, Duy Khiêm, Nguyễn Xuân Nam, Lê Bình, Nguyễn Văn Chuyên, Phạm Đình Khương, Nguyễn Phục Hưng, Võ Văn Xét, Phan Tấn Ngưu, Phạm Gia Cổn, Dương Nguyệt Ánh, Phan Anh Dũng, Phạm Anh Dũng, Thanh Lan, Diệu Hương, Paolo, Phạm Kim, Phạm Đình Long, Ngô Thiện Đức, Đỗ Tân Khoa, Hồng Vũ Lan Nhi, Ngọc Hà, Phạm Khánh Vân, Quỳnh Giao, Vân Khanh Bảo Ngọc, Cao Thái Hải, Lý Văn Quý Starband, Tăng Đức Sơn Aussie, Lưu Anh Tuấn, Bình Trương, Kiều Mỹ Duyên, Tâm An Đỗ văn Học, Phạm Ngọc Mai, Lý Tòng Tôn, Lê Hân, Ngọc Nhung Aloha, Việt Loan, Hoài Niệm, Cao Minh Hưng, Nhất Phương, Ngọc Long, Thùy Liêm, Phi Loan, Ngọc Nôi, Christina Lam Dung, Ngọc Quỳnh, Phạm Gia Đại, Bùi Đức Uyên, Phương Oanh Paris, Huỳnh Anh, Lê Thúy Vinh, Hồng Vân Vanessa, Ngọc Ân, Lê Minh Tâm, Lydia Vy Lan, Trường Sa, Phan Ni Tấn, Đặng Quỳnh, Bùi Bảo Sơn, Dương Viết Điền, Phan Nhật Nam, Đỗ Trợng Thái, Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền, Phan Đình Minh, Trần Việt Hải và Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ. vbvnhn
 
 

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
 
PHÂN ƯU
Vô cùng thương tiếc khi hay tin
Văn Hữu
LÊ VĂN TH ƯỢNG
Bút Hiệu LÊ THƯỢNG
Thành viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại/ Vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ
vừa từ trần ngày 31 tháng 7 năm 2 013
tại Denver, tiểu bang Colorado, Hoa Kỳ
Chúng tôi toàn thể VĂN BÚT VIÊT NAM HẢI NGOẠI
Thành kính chia buồn cùng tang quyến.
Nguyện cầu hương linh văn hữu LÊ THƯỢNG vãng sinh Cực lạc quốc.
Ðồng thành kính phân ưu.
BCH VBVNHN và toàn thể thành viên
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Phạm Nguyên Lương,
Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
PHÂN  ƯU
Vừa nhận đươc tin buồn thân phụ của Nữ sĩ Bích Ty và là  Nhạc  phụ của BS Hải Thanh Phạm Nguyên Lương, Ðệ Nhị Phó Chủ Tịch VBVNHN là
Cụ Ông  Ðào Xuân Ðàm
Pháp Danh Minh Ðạo
Đã mãn phần tại tư gia, thuộc tỉnh Concorde, North Carolina lúc 11 giờ 35 phút tối ngày 20 tháng 5 năm 2013 (nhằm ngày 11 tháng 4 năm Quý Tỵ)
Hưởng Thượng Thọ 94 tuổi
Lễ hỏa táng đã được cử hành ngày 23 tháng 05 năm 2013
Thay mật Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (VBVNHN) và toàn thể thành viên VBVNHN thành kính chia buồn cùng Nữ sĩ Bích Ty, BS Phạm Nguyên Lương và tang quyến.
Nguyện cầu hương linh cụ ông Ðào Xuân Ðàm sớm tiêu diêu miền cực lạc
Ðồng Thành Kính Phân Ưu
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân và Toàn thế văn thi hữu VBVNHN
 

__._,_.___

 
 
 
 
 
 
 
Link: http://www.ledinh.ca/2013%20Phan%20Uu%20Ba%20Van%20Giang.html
 







 

__._,_.___

 



 

CÁO PHÓ

 

Chúng tôi đau buồn báo tin cùng toàn thể thân quyến và bằng hữu biết cha, ông, và chú chúng tôi là:

 

Cụ  NGUYỄN TƯỜNG BÁCH

 

đã từ trần ngày 11 tháng 5 năm 2013 tại Fountain Valley, Orange County, California, hưởng thọ 98 tuổi.   

 

Linh cữu được quàn tại Westminster Memorial Park , địa chỉ:

14801 Beach Blvd
Westminster CA 92683
 800-877-1175 . 714-893-2421

 

Ngày giờ thăm viếng:     Thứ Sáu, ngày 24 tháng 5 năm 2013 từ 5:00 PM – 8:00 PM 

 

Thăm viếng và cử hành lễ:  Thứ Bẩy, ngày 25 tháng 5 năm 2013 từ  9:00 AM – 12:00 PM

(Quan khách phát biểu ý kiến từ 11:00 – 12:00 )

tại Westminster Memorial Park , Mortuary Chapel. 

 

An táng tại nghĩa trang Rose Hill Memorial.  Linh cửu sẽ rời Westminster Memorial Park vào trước 1:00 PM .  Bản đồ đến nghĩa trang sẽ được cung cấp.

 

Các con:

Trưởng nam

Nguyễn Hứa Kiên, vợ Ninh Mỹ Dung, và các con

Trưởng nữ

Nguyễn Hứa Lan, chồng Lưu Hán Tuyền, và con

Thứ nữ

Nguyễn Hứa Linh, chồng Tào Cảnh Nguyên, và con    

Nguyễn Hứa Loan, chồng Đàm Văn Vĩ, và con

Nguyễn Hứa Anh, chồng Lý Trung Nhân, và con         

Nguyễn Hứa Trân, chồng Jenkin Dunn, và các con       

 

Các cháu:

Con Ông Nguyễn Tường Thụy

Nguyễn Tường Hùng               

Nguyễn Tường Bá                                           

Nguyễn Thị Nguyệt                                          

Nguyễn Tường Lưu                                         

Nguyễn Thị Nhật                                             

Nguyễn Tường Quý

Nguyễn Thị Hồng                                            

            Nguyễn Tường Cường

 

Con Ông Nguyễn Tường Cẩm

            Nguyễn Tường Tâm                 

 

Con Ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

Nguyễn Tường Việt

Nguyễn Tường Triệu

Nguyễn Tường Thạch

Nguyễn Tường Thiết

Con Ông Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long

Nguyễn Minh Thu

Nguyễn Tường Ánh

Nguyễn Lân

Nguyễn Từ Dung

Con Bà Nguyễn Thị Thế

Nguyễn Kim Tuấn

Nguyễn Kim Dũng

Nguyễn Kim Sơn

Nguyễn Thị Tuyết

Nguyễn Cao Thị Liễu

Con Ông Thạch Lam Nguyễn Tường Lân

Nguyễn Tường Kim Nhung

Nguyễn Tường Đằng

Nguyễn Tường Giang

 

 

Tang gia đồng khấp báo

Xin miễn phúng điếu

 
 
---------- Forwarded message ----------
From: tuongluu nguyen <>To: KIMANH.NaUy
Date: 2013/5/15
Subject: Cáo Phó Cụ Nuyễn Tường Bách

 
                       Xin gửi Tất cả Qúy Vị bản Cáo Phó và Chương Trình Tang Lể
 
                                             Cụ Nguyển Tường Bách
  
                                    Xin cám ơn
 
                                    Tạm thay mặt Tang quyến
                                    Nguyển Tường Lưu

__________________________________________________________________
 
  

alt

 
 

 
 
 Được  tin buồn:
 
Cụ NGUYỄN TƯỜNG BÁCH
Y Khoa Bác Sĩ, Nhà Báo, Nhà Văn, Nhà Đấu Tranh
Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam,
 
đã từ trần ngày 11 tháng 5 năm 2013 tại Fountain Valley, Orange County, California USA,
hưởng thượng thọ 98 tuổi.  
 
Thành kính chia buồn cùng tang quyến của Cụ Nguyễn Tường Bách.
Nguyện cầu hương linh của Cụ sớm siêu sinh tịnh độ.
 
Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt, Từ Cánh Đồng Mây, Thi Đàn Mây Bốn Phương, Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt và Hội Bưởi Chu Văn An Nam California.
 
Đồng Thành Kính Phân Ưu
 
 

 

_____________________________________________________________ 
 
Tiểu Sử Nhà văn Nguyễn Tường Bách
 
Tốt nghiệp bác sĩ năm 1946, cùng thời với Bác Sĩ Trần Ngọc Ninh (Viện Việt Học), Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàng (cùng lãnh đại Đại Việt Quốc Dân Đảng với GS Nguyễn Ngọc Huy). Trước năm 1946, Pháp không công nhận bằng bác sĩ cho người Việt mà chỉ gọi họ là y sĩ.
Là con út trong một gia đình bẩy anh chị em: Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), và Nguyễn Tường Bách.
* Tác phẩm đã xuất bản:
 Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn, truyện dài
 Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua, hồi ký
 40 Năm Sống Ở Trung Quốc, hồi ký
 
 
 
______________________________________________________________
 
On Sun, 5/12/13, BMH <amsfv@aol.com> wrote:
From: BMH <amsfv@aol.com>
Subject: Cụ Nguyễn Tường Bách : Người con út của ‘gia đình Nguyễn Tường thế hệ Tự Lực Văn Ðoàn’ qua đời....
To: Xin phổ biến
Date: Sunday, May 12, 2013, 6:54 AM


Xin chuyển tin đến Qúy Vị, Qúy NT và CH...

Để tư
ờng...

Trân trọng,

 
BMH
Washington, D.C

 

 
  Người con út của ‘gia đình Nguyễn Tường
 thế hệ Tự Lực Văn Ðoàn’ qua đời
 
 
FOUNTAIN VALLEY, California  - Cụ Nguyễn Tường Bách , người con út của gia đình Nguyễn Tường đầy tài năng về văn học đã xuất bản hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay cùng thành lập Tự Lực Văn Ðoàn từ thập niên 1930 của thế kỷ trước, vừa qua đời tại bệnh viện Fountain Valley, Nam California, vào lúc 2 giờ 15 phút chiều ngày 11 Tháng Năm, hưởng thọ 97 tuổi. Tin từ gia đình cho hay cụ mất vì tuổi quá cao, thời gian gần đây ngày càng yếu dần, và đã thanh thản ra đi hôm nay.

 
Cụ Nguyễn Tường Bách. (Hình: Gia đình cung cấp)

Cụ Nguyễn Tường Bách sinh năm 1916 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, từ một gia đình gốc làng Cẩm Phô, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam dời ra sinh sống tại miền Bắc từ hai đời trước. Trừ người anh cả Nguyễn Tường Thụy là công chức không dính líu đến văn nghệ và chính trị, các người em em còn lại: Nguyễn Tường Cẩm, Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam, Tứ Ly, Hoàng Ðạo - Nguyễn Tường Long, Nguyễn Thị Thế, Thạch Lam - Nguyễn Tường Lân, và người em út, Viễn Sơn - Nguyễn Tường Bách, đều là những người tham dự vào văn chương.

Từ thời trẻ, Nguyễn Tường Bách đã viết báo, làm thơ, viết truyện ngắn đăng trên hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay.
Từng theo học trường Bưởi, trường Albert Saurraut, đại học Y Khoa Hà Nội, tốt nghiệp bác sĩ năm 1944.

Năm 1939, cụ tham gia đảng Ðại Việt Dân Chính cùng Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Gia Trí, Khái Hưng, Nguyễn Tường Long, v.v... Năm 1942 Thạch Lam qua đời, Nguyễn Tường Bách phụ trách nhà xuất bản Ðời Nay.

Năm 1943 Ðại Việt Dân Chính hợp nhất với Việt Nam Quốc Dân Ðảng.

Năm 1945 VNQDÐ kết hợp với Ðại Việt Quốc Dân Ðảng dưới danh nghĩa chung Quốc Dân Ðảng.

Tháng Ba năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, cụ làm giám đốc tờ Ngày Nay bộ mới với sự cộng tác của Khái Hưng, Hoàng Ðạo, hô hào độc lập, dân chủ.

Tháng Năm năm 1945 Việt Minh cướp chính quyền, cụ cùng với Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Ðảng ra hoạt động công khai. Ông giữ chức ủy viên trung ương, phụ trách tờ Việt Nam chống đối chính sách của đảng Cộng Sản, rồi phụ trách công tác tuyên truyền, công tác tổ chức đảng.

Cụ sáng lập Quốc Gia Thanh Niên Ðoàn, giữ chức nhiệm đoàn trưởng.

Tháng Năm, 1946, tình thế cấp bách cụ lên Ðệ Tam Chiến Khu (gồm từ Vĩnh Yên tới Lao Kay), phụ trách chỉ huy bộ cùng với Vũ Hồng Khanh. Tháng Sáu, 1946, Việt Minh tăng cường vũ trang công kích, Tháng Bảy phải rút lên Yên Bái, Lao Kay. Tháng Tám, 1946 cụ sang Trung Quốc hoạt động ngoại viện và liên lạc với các tổ chức người Việt ở hải ngoại.
Cuối năm 1946 cụ lập gia đình với bà Hứa Bảo Liên tại Côn Minh.

Năm 1947, cụ từ Vân Nam sang Hồng Kông. Quốc Dân Ðảng không tán thành giải pháp Bảo Ðại với những điều kiện Pháp đưa ra và chủ trương tiếp tục hoạt động bí mật.

Tháng Tám, 1948, Hoàng Ðạo đột nhiên mất trên xe lửa từ Hồng Kông về Quảng Châu.

Tình thế Trung Quốc biến chuyển. Một số anh em trở về quốc nội. Vì không muốn trở về khu Pháp, cụ cùng một số anh em ở lại Trung Quốc. Từ năm 1950 cụ hành nghề bác sĩ tại Phật Sơn, Quảng Ðông, cho tới khi về hưu.

Năm 1988 cụ di dân sang Hoa Kỳ, định cư tại Nam California.

Ở hải ngoại cụ tiếp tục hoạt động cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam, góp sức vào sự đoàn kết và tổ chức một số phong trào liên minh và mặt trận. Cụ là một trong những sáng lập viên, và sau giữ chức cố vấn của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam và là tác giả cuốn tiểu thuyết Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn và tập hồi ký Việt Nam Một Thế Kỷ Qua phần I (1998) và phần II (2001). Cụ viết nhiều bài bình luận và bút ký cho một số báo hải ngoại, dưới bút hiệu Viễn Sơn.

 
Link: 



________________________________________________________________________________
 
Mạn Đàm Với Bs. Nguyễn Tường Bách

Lâm Lễ Trinh

Năm 1988, bác sĩ Nguyên Tường Bách và gia đình di cư từ Trung quốc qua Californie. Một thời gian sau, chúng tôi có dịp tiếp xúc với nhau và trở nên đôi bạn tâm giao. Sau khi phổ biến năm 1995 quyển tiểu thuyết "Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn", Bs Bách cho ra mắt độc giả năm 1999 "VN, Một thế kỷ qua. Hồi ký cuốn một, 1916-1946". Tiếp theo là tập ký ức phần 2 "Việt Nam, Một thế kỷ qua. 54 năm lưu vong Trung quốc (1946-1988) và Hoa kỳ (1988-2000)" mà tôi đã nhận lời giới thiệu trong buổi ra mắt sách ngày 23.9.2001 tại Hội quán Little Sàigon Radio, Californie.

Từ nhiều năm, hai chúng tôi là Cố vấn của tổ chức bất vụ lợi "Mạng  Lưới Nhân quyền" thành lập tháng 11.1997. Bs Bách (NTB) là một thành viên trong nhóm sáng lập. Ngày 24.9.2005, anh chị Bách mới chấp nhận cho tôi (LLT) thực hiện một cuộc mạn đàm thân mật trên hai giờ đồng hồ tại tư thất của anh chị thuộc thành phố Westminster. Cuộc mạn đàm này được Đinh Xuân Thái, Đài Little Saigon TV, đích thân thu hình.
 
Sau đây là những đoạn có thể tiết lộ trong cuộc phỏng vấn:
LLT: Xin anh vui lòng cho biết vài nét chính về vị trí của anh trong gia tộc Nguyễn Tường.
NTB: Tôi sinh năm 1916 tại huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Con út trong một gia đình 7 người con trong đó có Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) và Nguyễn Thị Thế, định cư và qua đời ở Hoa kỳ. Hai anh Tam và Long từng giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Kinh tế trong Chính phủ Liên Hiệp Kháng chiến VN thời Hồ Chí Minh. Anh Hai Nguyễn Tường Cẩm bị Việt Minh thủ tiêu khi mới 44 tuổi tại Bắc Việt mặc dù không từng tham gia đảng phái nào.
 
Sau khi xong tiểu học tại Hải Dương và Thái Bình, tôi về Hà Nội, đường Hàng Vôi, để tiếp tục chương trình sơ học. Tôi vào trường Bưởi, tức Chu Văn An, để luyện thi Tú tài nhưng sau một thời gian, tôi xin thôi, về nhà mua sách để tự học vì không thích không khí giáo dục bảo hộ. Đổ Tú tài 1 Pháp lối năm 1930, tôi trợt Tú tài 2. Tại trường Albert Sarraut, ban Triết, tôi được Giáo sư Bourguignon chú ý vì ông nhận thức tôi có một cái vốn Triết khá vững nhờ nghiên cứu riêng. Đậu hạng ưu, tôi ghi tên vào Trường Y khoa Hà Nội. Tôi thích văn chương hơn nhưng gia đình khuyên nên có một chọn lựa thực tế, bảo đảm đời sống tương lai.
LLT: Lúc ấy, ngành y đòi hỏi mấy năm học? Anh thi đậu năm nào?
NTB: Bảy năm, gồm có một năm chuẩn bị PCB. Tôi nạp luận án năm 1943 và qua năm sau lãnh cấp bằng bác sĩ, trước ngày 3.9.1945 Nhựt đảo chính Pháp. Trong lúc học y khoa cũng như sau    khi ra trường, tôi hoạt động hội kín trong Đảng Đại Việt Dân chính, làm thơ, viết báo với nhóm Tự lực Văn đoàn và phụ trách - trong cương vị hoặc chủ nhiệm, hoặc chủ bút - các tờ báo Ngày Nay Tập mới, Bình Minh, Việt Nam Thời báo và sau hết, tờ Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Việt nam Quốc Dân Đảng.
LLT: Căn cứ vào ba tác phẩm của anh kể ở đoạn trên thì cuộc đời anh có thể chia ra thành ba giai đọạn: 1) thời niên thiếu và đấu tranh văn hóa và cách mạng trong xứ (1916-1946) 2) giai đọan lưu vong tại Trung quốc (1949-1988) 3) di cư qua Hoa kỳ năm 1988 đến nay.
Truớc hết, xin anh vui lòng cho biết về chủ trương và hoạt động của nhóm Tự lực Văn đoàn, đặc biệt vai trò cốt cán của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
NTB: Lúc còn trẻ, anh Tam đã bắt đầu viết lách và được dân chúng biết qua hai sáng tác Nho Phong và Người Quay Tơ. Khi đi học ở Pháp về với bằng cử nhân vật lý, anh trở thành chủ nhiệm tờ Phong Hóa do một người bạn nhường lại năm 1932. Cùng với một số anh em gồm có Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mở, Cù Huy Cận, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Cát Tường tức hoạ sĩ Lemur...., anh thành lập Tự Lực Văn Đoàn. Chủ trương của TLVĐ là canh tân xã hội, chế diễu các tệ đoan và chống hủ lậu, phong kiến. Riêng về tôi (lúc đó là người trẻ nhất trong nhóm), tôi cũng tập tành làm thơ mới như Bàng Bá Lân, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận.. Thơ của tôi đăng báo dưới bút hiệu Tường Bách. Bài thơ được chú ý nói về Tết. Tuy nhiên tôi không thể tiếp tục lâu. Phong Hoá bị đóng cửa. Tôi phải thay thế anh Nguyễn Tường Cẩm quản lý tờ Ngày Nay.
Hoàng Đạo có bằng cử nhân luật, làm tham tá lục sự, chuyên viết bài bình luận thời cuộc và nổi tiếng, đặc biệt trong giới thanh niên, với tác phẩm Mười Điều Tâm Niệm. Hoàng Đạo không liên hệ gì đến phong trào hướng đạo của Hoàng Đạo Thúy. Về sau, Thúy là cha vợ của Tạ Quang Bửu, Tổng trưởng Quốc phòng Việt Minh, người thay mặt Bắc Việt ký vào Hiệp định Genève. Thạch Lam không làm chính trị, chỉ chuyên về văn chương, viết truyện ngắn và lo việc quản trị toà soạn. Thạch Lam chết sớm, lúc 33 tuổi, vì bệnh phổi, trong hoàn cảnh thiếu thốn.
Nhất Linh là lãnh tụ Đại Việt Dân chính. Tổ chức này hợp nhất với Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1943. Năm 1945, VNQDĐ nhập với Đại Việt Quốc Dân Đảng dưới danh xưng chung Quốc Dân Đảng. Hoàng Đạo và Khái Hưng từng bị bắt và tra tấn ở Vũ Bản. Anh Tam cũng bị giam bốn tháng ở bên Tàu và được thả ra nhờ sự can thiêp của cụ Nguyễn Hải Thần.
LLT: Chúng ta hảy đề cập đến giai đọan 2: giai đoạn lưu vong. Trong trường hợp nào, năm 1946, với tư cách Chỉ huy trưởng Đệ tam chiến khu của Quốc Dân Đảng (gồm từ Vĩnh Yên tới Lào Kay), anh rút lên Yên Báy và từ đó, qua Trung Hoa? Chiến khu này có bao nhiêu quân? Tàn quân qua Tàu gồm có ai? Lúc đó, Nguyễn Tường Tam ở đâu? Anh giải thích như thế nào lực lượng Việt Minh có ảnh hưởng mạnh trong quần chúng? Vì sao phiá quốc gia năm 1946 tan rã mau chóng trước đám quân Việt Minh?
NTB: Tháng 8.1945, Việt Minh cướp chính quyền. Cùng với VN Cách Mệnh Đồng Minh Hội, VN Quốc Dân Đảng xuất hiện đấu tranh công khai. Tôi là ủy viên trung ương, phụ trách tờ Việt Nam để tuyên truyền chống CS. Mặt khác, tôi tổ chức Quốc gia Thanh niên Đoàn. Tháng 6.1946, Việt Minh tăng cường áp lực. Sau khi cầm cự lối nửa năm, đảng trưởng Vũ Hồng Khanh, tôi và Lê Khang, trong Bộ Chỉ huy, phải rút lên Việt Trì, rồi Yên Báy và Lào Kay. Lực lượng Đệ tam khu lúc đó gồm có lối một nghìn người: hai, ba trăm chí nguyện quân từ Trung Hoa về, cọng với một số cựu lính khố xanh của Pháp, võ trang khá thô sơ. Thành phần kể sau không có ý chí tranh đấu mạnh. Phiá ta không có đài phát thanh, thiếu phương tiện quảng bá, chỉ có tờ báo Việt Nam. Quân ta đóng chốt tại các tỉnh lỵ nên bị Việt Minh bao vây.
Việt Minh không đông nhưng ảnh hưởng mạnh quần chúng vi họ có tổ chức, biết đọat thời cơ, tuyên truyền sâu rộng và lôi cuốn đồng bào với các chiêu bài ăn khách như đả thực, chống đế quốc và áp bức. Phiá quốc gia xích mích nội bộ, chủ quan, coi thường đảng CS và đặt hết niềm tin vào sự hỗ trợ của quân đội Trung hoa nên thua là phải. Tháng 7.1946, khi hay tin Việt Minh nhóm đại hội tại Thái Nguyên và Nhật bản sắp đầu hàng, cánh quốc gia đã không tổng hành động kịp thời, tiến tới khởi nghĩa. Bị kẹt giữa Pháp và Việt Minh, các đảng quốc gia không chiếm được địa bàn đủ rộng và không có đủ sức chống lại hai thế lực đó từ Nam ra Bắc.
Một ngày cuối tháng 7.1946, toán anh em chúng tôi gồm có 8 người vượt qua cầu sắt Lào Kai - Hà khẩu để sang Trung hoa. Khi ấy anh Tam đã có mặt tại Côn Minh. Như Nam Ninh và Quảng châu, Côn Minh là nơi ẩn thân của nhiều nhà đấu tranh VN. Hội nghị đảng viên bầu một Hải ngoại Bộ để tiến hành công tác ngoại vận và gây lại các cơ sở địa phương. Thành phần lãnh đạo gồm có anh Nguyễn Tường Tam (chủ nhiệm), Nguyễn Tường Long (ngoại vụ) và Xuân Tùng (kinh tài). Tâm trạng chung lúc đó khá bối rối, phức tạp, có người tỏ ra thất vọng nhưng phần đông thông cảm tình thế khó khăn.
LLT: Trung tuần tháng 10.1949, Quân đội Mao Trạch Đông "giải phóng" Trung Hoa lục địa, Tưởng Giới Thạch rút qua Đài Loan. Lúc đó anh đã kết hôn với một sinh viên người Việt gốc Hoa, có quốc tịch Pháp, tên Hứa Bảo Liên quen từ Hà Nội. Anh chị được giấy lưu trú tại Phật Sơn. Một dư luận cho rằng chị Bách đã thuyết phục anh ở lại Trung quốc. Đúng hay không? Lý do nào khiến anh không trở về tranh đấu ở Việt Nam? Sống 40 năm dưới chế độ Tàu Đỏ có phải là một sự phí phạm hay không?
NTB: Cô Hứa Bảo Liên là một tình nguyện viên Hoa kiều Việt Nam làm việc tại Nhà thương Phủ Doãn Hà Nội trong lúc tôi tập sự nơi đây cùng với Phạm Biểu Tâm, Trần Đình Đệ... Cô cũng có hợp tác viết lách và phiên dịch trong các tờ báo do tôi phụ trách, vì thế cô quen nhiều với gia đình Nguyễn Tường. Cô là một phụ nữ có tinh thần phóng khoáng, tự lập và dấn thân. Lúc tôi vượt biên sang Trung hoa năm 1945 thì cô đang học môn văn chương tại Đại học Côn Minh, CS chưa chiếm lục địa. Chúng tôi thành hôn ở thành phố này vào giữa năm 1947. Chuyện ở lại Trung hoa là quyết định cá nhân tôi, tôi không chấp nhận về nước sống trong khu Pháp kiểm soát. Nhà tôi nhiệt tình san sẻ kiếp lưu vong của chồng.
Tôi không nghĩ đã phí phạm cuộc đời ở Trung Hoa. Anh em đồng chí chúng tôi rút kinh nghiệm để nghiên cứu tại chỗ một con đường đấu tranh mới trong thế bí của các phái quốc gia. Tháng 3.1949, chúng tôi thoát ly Quốc Dân Đảng và thành lập nhóm "Cách Mệnh Xã hội" với chủ trương chống chuyên chính vô sản và tư bản bốc lột; thực hiện một chế độ "xã hội chủ nghĩa" nhưng không độc tài theo lối Bắc Âu. Tờ báo Cách Mệnh Xã hội ra được vài số rồi ngưng xuất bản.
Tháng 2.1950, tôi được nhận làm việc tại Đệ tam Y viện tỉnh Quảng Đông. Trước dó, năm 1948, Liên được tuyển dạy văn hoá và toán ở một trường tiểu học Phật Sơn, lương trả bằng gạo. Quy chế của chúng tôi là ngoại kiều cư trú, phải đi học tập chính trị. Đời sống chật vật vì đông con. Tôi đã chứng kiến tận mắt tất cả các trận bão táp của chế độ Mao: cải cách ruộng đất, kế hoạch đấu tố tư sản, phong trào học sinh lên núi xuống đồng, cuộc vận động "ba chống, năm chống", Đại hội 8 của Trung cộng, Cách mạng văn hóa 1968, Đại Nhảy vọt về nông nghiệp, nạn đói kinh khủng, sự phản đối khuynh hướng "hữu khuynh, xét lại" v..v..
Năm 1963, Lê Duẩn ngả hẳn về phiá Bắc kinh. Trung Cộng tự phong là "hậu phương môi hở răng lạnh" với Bắc Việt. Dân Tàu lẫn Việt đồng hát vang "Việt Nam, Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông!"
LLT: Nhất Linh nghĩ sao về đường lối chính trị và họat động của anh tại Trung Quốc? Xin cho biết chi tiết về cái chết của Nhất Linh và Hoàng Đạo. Quyết định tự vẫn của ông Tam có hợp lý hay không?
NTB: Tháng 7.1947, tôi rời Côn Minh đi Quảng châu để cùng với Nguyễn Hải Thần, hai anh Tam, Long và một số nhân vật đến từ VN như Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Bảo Toàn, Lưu Đức Trung.. v..v... hội nghị với cựu hoàng Bảo Đại tại Hồng kông về những điều kiện thương thuyết của Cao ủy Pháp Bollaert. Phiên họp không đi đến đâu vì một số - trong đó có chúng tôi - cho rằng thoả hiệp với Pháp là mất chính nghĩa.
Giữa 1948, Trung ương Quốc Dân Đảng VN cử Vũ Hồng Khanh và tôi đi Nam kinh cầu viện với Chính phủ Tưởng Giới Thạch. Chúng tôi tiếp xúc với một số nhân vật Quốc Dân Đảng và Liên Minh Á châu chống Cộng, đặc biệt với Phó Tổng thống Lý Tôn Nhân. Chuyến đi này không đem lại kết quả vì, trước sự tấn công ồ ạt của CS, một số cơ quan chính phủ đã bí mật dọn đi Đài Loan.
Anh Tam chủ trương không thể cộng tác với Pháp dù là tạm thời và cũng không thể liên hiệp với CS dù là kháng chiến. Về ý kiến của chúng tôi đi tìm một sinh lộ mới cho Đất Nước, anh không tán thành hay phản đối. Xưa nay, anh không có thói quen áp đặt quan niệm của mình, có thể vì thế mà anh không tổ chức được hàng ngũ đấu tranh cò kỷ luật chặt chẽ. Vả chăng, lúc ấy, anh Tam đã yếu, suy nhược thần kinh, đau dạ dày nên cần tịnh dưỡng một thời gian.
Tháng 8.1948, Hoàng Đạo qua đời đột ngột, lúc 42 tuồi, vì bệnh tim trên chuyến xe lửa đi từ Hồng kông về Quảng châu sau khi gặp vợ ở VN đưa con qua thăm. Được thông báo tin dữ, anh Tam, tôi và năm đồng chí đến ga Thạch Long để nhận xác và tống táng với tất cã lòng đau xót và thương tiếc.
Tháng 7.1963, chúng tôi đột nhiên nhận được điện tín của một người bạn tên Vũ Đức Văn gởi từ Thượng Hải cho biết Nhất Linh đã tự vẫn ngày 6 tháng 7 tại Sàigòn để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm. Anh Tam đã trở về Việt Nam để viết sách và làm báo. Anh bị điều tra trong vụ đảo chính hụt Chính phủ nhưng không có bằng chứng. Sức khoẻ của anh không tốt, bệnh đau dạ dày hành hạ. Trong lúc khủng hoảng tinh thần, anh đã lấy một quyết định đáng tiếc. Trong thâm tâm, tôi không mấy tán thành. Anh Tam qua đời lúc 59 tuổi. Anh còn có nhiều khả năng giúp đỡ Quê hương. Rất uổng! Đám táng của anh khá trọng thể, quần chúng tham gia đông đảo. Cái chết của Nhất Linh, dù sao, làm giảm uy tín chế độ đương quyền giữa lúc vấn đề Phật giáo sôi sục.
LLT: Tháng 10.1977, anh có về Việt Nam sau nhiều thập niên lưu vong. Vì lý do gì? Tiếp xúc với ai? Anh nhận xét ra sao về Đất nước thời ấy?
NTB: Đúng vậy, tôi và đứa con trai có về VN hai tháng, đi bằng xe lửa, từ Bắc Kinh đến Hà Nội, qua ngả Mạc Tư Khoa. Lý do giản dị là nhớ nhà, thăm mồ mả gia tiên và muốn biết thực trạng Quê hương. Tôi viếng nhiều chỗ: Lạng Sơn, Bắc Giang, Nam Định..vv... Tại Hà Nội, tôi bùi ngùi thấy không còn bao nhiêu dấu vết cũ của ngôi nhà từng được dùng làm toà soạn báo Phong Hoá, Ngày Nam và Việt Nam. Quê hương nghèo đói, tụt hậu và rách nát thảm thê! Buổi giã từ họ hàng và thân hữu để trở về Phật Sơn thật vô cùng cảm động, tôi nhớ mãi. Tôi không có tiếp xúc với ai cả ngoài bạn bè và thân quyến.
LLT: Bây giờ hãy nói đến giai đọan ba trong cuộc đời sôi nổi của anh chị: giai đọan định cư tại Mỹ. Vì sao lại chọn Hoa kỳ? Anh đã có những hoạt động văn hoá vá chính trị nào từ ngày đặt chân trên xứ này?
NTB: Tháng 3.1988, sau 40 năm sinh sống tại Trung Quốc, vợ chồng chúng tôi quyết định di cư qua Mỹ để đoàn tụ với hai con Hứa Anh và Hứa Chân. Lưu vong đâu nữa cũng là lưu vong. Tuổi tôi đã quá 72. Thủ tục giấy tờ phiền toái nhưng cuối cùng cũng vượt qua. Máy bay đáp xuống phi trường Los Angeles. Chúng tôi xúc động trùng phùng với người thân và đặt chân trên đất của Nữ thần Tự do. Nơi đây tôi sẽ sáng tác theo ý muốn vì đối với tôi, từ xưa nay bác sĩ là chức nghiệp, cách mạng là sự nghiệp, văn nghệ mới là ước nguyện chính. Thời gian đầu để dành đi thăm bà con và bạn bè tản lạc ở nhiều tiểu bang. Đăc biệt, tôi còn một người chị ruột là Nguyễn Thị Thế ở Virginia, gần 80 tuổi, chưa gặp quá 40 năm.
Sớm du nhập vào nếp sống Hoa kỳ, cập nhật hoá tin tức và nghiên cứu tài liệu là những nhu cầu khẩn thiết đối với tôi. Quốc tịch Hoa kỳ giúp làm thủ tục xin cho các con khác ở Trung Quốc sang định cư nếu chúng muốn.
Tôi bắt đầu viết lách lại và xuất bản được trong các năm 1995, 1999 và 2000 ba sáng tác kể ở phiá trên: một quyển tiểu thuyết và hai hồi ký. Ngoài ra, tôi hợp tác với nhiều báo Việt ngữ dưới bút hiệu Viễn Sơn. Tôi cũng tiếp xúc với nhiều hội đoàn và tổ chức người Việt. Ngày 12 và 13 tháng chạp 1988, một Đại hội đảng phái quốc gia nhóm sơ bộ tại Santa Ana, Californie, chỉ định tôi trình bày mục tiêu. Một Văn phòng phối hợp ra đời để nghiên cứu và thảo kế hoạch. Ngày 16.9.1989, một Đại hội chính thức được triệu tâp, tôi đọc diễn từ khai mạc, Nguyễn Long Thành Nam thuyết trình về mô thức kết hợp, Trần Đức Thanh Phong về lập trường chính trị và nội quy, Phạm Đình Đệ về kế hoạch công tác. Ngày hôm sau, Đại hội biểu quyết lấy danh xưng là "Uỷ ban Điều hợp các tổ chức đấu tranh cho VN tự do". Văn phòng điều hợp Trung ương được thiết lập và một Thông cáo chung được thông qua. Ngày 25.5.1991, cũng tại Santa Ana, Mặt trận Dân tộc Dân chủ Việt Nam, gồm có 8 đảng và một số nhân sĩ, ra mắt quần chúng. Cơ quan ngôn luận của Mặt trận là tờ Tiếng Dân. Tiếc thay, về sau, một tổ chức trong Mặt trận vi phạm cương lĩnh bằng cách chủ trương thoả hiệp với cộng sản, đối thoại vô nguyên tắc, đầu cơ. Để tránh những xung đột vô ý nghiã giữa các thành viên, Mặt trận đã ngưng họat động vào năm 1995. Một lần nữa, giấc mơ kết hợp gây thất vọng.
LLT: Thành phần tham gia Đại hội gồm có đảng phái, chính khách nào? Tổ chức nào đã cổ động hòa giải hoà hợp với CS. Sau hết, một cách vắn tắt, anh nghĩ sao về tương lai của Việt Nam?
NTB: Theo thứ tự trong biên bản, các tổ chức tham dự là VN Quốc Dân Đảng, Mặt trận VN Tự do, VN Dân chủ Xã hội Đảng, Liên Minh Dân chủ VN, Lực lượng VN Tự do, Liên Minh Toàn Dân VN Quốc gia, Tổ chức Phục Hưng, Cơ sở Dân quyền Canada, Tổ chức Phục Việt Âu châu... Đại diện đảng và nhân sĩ gồm có Hà Thúc Ký, Nguyễn Ngọc Huy, Bùi Diễm, Lê Duy Việt, Lê Phước Sang, Trần Minh Công, Trần Văn Sơn, Nguyễn Văn Trần, Nguyễn Long Thành Nam, Hà Thế Ruyệt, Hoa Thế Nhân, Trần Huỳnh Châu, Phạm Ngọc Lũy, Lưu Trung Khảo, Trần Đức Thanh Phong, Nguyễn Văn Tại..v..v..
Sau khi Gs Nguyễn Ngọc Huy qua đời, Liên Minh Dân chủ VN vỡ làm đôi. Cánh Stephen Young tiếp xúc với Hà Nội để tìm giải pháp thoả hiệp. Tôi tin tưởng CS không tồn tại lâu ở VN vì chủ nghĩa Mác Lê đầy mâu thuẫn, tự diệt và xa dần quần chúng. Đấu tranh cho Nhân quyền có thể dấy động đại chúng và thúc đẩy áp lực của quốc tế đối với Hà Nội. Bởi thế từ 1996, tôi nhiệt liệt cổ động việc thành lập "Mạng Lưới Nhân Quyền VN". Tổ chức này được hợp thức hóa trong Đại hội thế giới triệu tập vào tháng 10.1997 tại Californie và đang hoạt động hữu hiệu
Kết luận
Sự hấp tấp quyên sinh của Nhất Linh và bốn thập niên cố tình ẩn tích của Bs Bách tại một nước CS láng giềng là những điểm nêu câu hỏi trong giới người Việt từng dành nhiều cảm tình cho gia tộc Nguyễn Tường. Gia tộc này đã hiến cho Đất nước những người con ưu tú trong lãnh vực chính trị lẫn văn hóa.
 
Hồi tưởng quá khứ, Bs Bách đã bộc trực thú nhận như sau trong quyển ký ức 2 "VN, Một thế kỷ qua, 54 năm lưu vong", trang 417: "... Dù sao việc ở lại Trung Quốc trong bốn mươi năm cũng không khỏi gây ra thắc mắc, hiểu lầm, thậm chí công kích từ một số người Việt quốc gia, trong đó có cả thân hữu. Tôi nghĩ việc này cũng là tự nhiên thôi. Mỗi người trong biến cố phức tạp của cuộc đời, có thể có những sai lầm nghiêm trọng." Nơi trang 251 của tập Hồi ký 1 "VN Một Thế Kỷ qua", anh Bách cũng không ngại nhắc đến câu Nhất thất túc thành thiên cổ hận, Lỡ một bước đành hận ngàn thu.
Thất bại tuy nhiên có thể là mẹ của thành công nếu biết rút những bài học thích đáng để sửa sai kịp thời. Chỉ có những kẻ khiếp nhược sợ hành động mới không bao giờ sai lầm. Bs Bách đã chọn dấn thân không sờn lòng, không mệt mỏi. Trong một trang khác của Hồi ký nêu trên, anh viết - như một lời nhắn nhủ: "Đời là một cuộc đấu tranh. Thua keo này, bày keo khác, đó là quy luật của cách mạng. Bỏ cuộc tức là chịu thua." (trang 471).
Nguyễn Tường Bách đáng là tấm gương cho thế hệ trẻ trong công cuộc đi tìm con đường sáng để phục vụ lý tưởng và dân tộc.
 
TƯ LIỆU: 1- "Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn", của Nguyễn Tường Bách, nxb Tân Văn 1995, Californie
2- "VN Một thế kỷ qua. Hồi ký I (1916-1946)" của Nguyễn Tường Bách, nxb Thạch Ngữ, Californie 1999
3- "VN Một thế kỷ qua, Hồi ký II. 54 năm lưu vong, Trung quốc (1946-1988) - Hoa kỳ (1988-2000)", nxb Thach Ngữ 2000.
4- "Nguyễn Tường Bách và Tôi" của Hứa Bảo Liên, tác giả tự xuất bản, Westminster 2005.
5- "Hồi ký về Gia đình Nguyễn Tường" của Nguyễn Thị Thế, nxb Văn Hoá Ngày Nay, 1996.
 
LÂM LỄ TRINH
Thủy Hoa Trang
Ngày 6.6.2006

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
 
PHÂN ƯU

Nhận được tin buồn hiền huynh của nhà thơ Chúc Anh (Kim Anh Miller) là

JOSEPH PHẠM HỮU TUẤN
vừa được Chúa gọi về.

Thay mặt Ban Chấp Hành và Toàn thể thành viên thành viên VBVNHN thành kính
phân ưu cùng VH Chúc Anh và tang quyến.
Nguyện cầu hương linh người quá vãng sớm hưởng nhan Thánh Chúa.

ÐồNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Vũ Văn Tùng, Nguyễn Thế Giác, Phạm Nguyên Lương, Ðinh Mộng Lân, Vũ Thùy Nhân

__._,_.___

 

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
 
TIN BUỒN
Vô cùng thương tiếc được tin thân phụ của thi văn hữu Vũ Thùy Nhân, Thủ Quỹ VBVNHN, là
Cụ VŨ VĂN LỘ
đã được Chúa gọi về lúc 2 giờ chiều ngày 20 tháng 03 năm 2013.
Hưởng thọ 90 tuổi.
Lễ cầu nguyện hương linh người quá vãng và thăm viếng sẽ được cử hành ngày
Chủ nhật  24 tháng 3 năm 2013 từ 4:00 p.m đến 8:00 p.m tại
Melrose Abbey Memorial Park, Anaheim.
Rose Chapel
2303 S. Manchester Ave
Anaheim, CA 92802
(714) 634-1981
Lễ an táng sẽ được cử hành lúc 10:00 a.m ngày Thứ Tư 27 tháng 03 năm 2013 tại Melrose Abbey Memorial Park.
St. Boniface Catholic Church
120 N. Janss St
Anaheim, CA 92805

 

Thay mặt Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và toàn thể thành viên VBVNHN thành kính chia buồn cùng thi văn hữu Vũ Thùy Nhân và tang quyến.
 Nguyện cầu hương linh cụ Vũ Văn Lộ sớm hưởng nhan Thánh Chúa.
Đồng thành kính phân ưu
VŨ VĂN TÙNG, NGUYỄN THẾ GIÁC, PHẠM NGUYÊN LƯƠNG, ĐINH MỘNG LÂN VÀ TOÀN THỂ VĂN THI HỮU VBVNHN.
 




 

webassets/thuynhanb1.jpg
webassets/thuynhanb5.jpg
webassets/thuynhanb4.jpg
webassets/thuynhanb8.jpg

Bốn hình trên chụp cảnh một số BCH, BĐD, hội viên Văn Bút tới thăm viếng linh cửu thân phụ VH Vũ Thùy Nhân Ngày 24/03/2013 lúc 4 giờ chiều tại nhà quàn Melrose Abbey Memorial Park (Rose Chapel) số 2303 S Manchester Ave, Anaheim Ca 92802 USA

 

Thành Kính Phân Ưu,
Được tin buồn thân phụ của văn hữu Vũ Thùy Nhân vừa qua đời, toàn thể hội viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ thành kính PHÂN ƯU cùng chị Vũ Thùy Nhân và tang quyến, nguyện cầu hương linh cụ ông Vũ Văn Lộc sớm được hưởng nhang Thánh Chúa.
       Ban Đại Diện  và toàn thể hội viên Văn BútVùng Đông Bắc Hoa Kỳ.


VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998

Phân Ưu

Vừa nhn được tin buồn
Thân mẫu
Họa Sĩ Lê Thúy Vinh
vừa qua đời vào lúc 8:30 pm ngày 7 tháng 2 năm 2013 tại Việt Nam

THÀNH KÍNH CHIA BUỒN CÙNG TANG QUYẾN VÀ VH LÊ THÚY VINH
CẦU NGUYỆN HUONG LINH CỤ BÀ SỚM VỀ CỎI VĨNH HẰNG

TM BCH VBVNHN
Vũ Văn Tùng

__._,_.___

Phạm Duy: Cũng Một Kiếp Người!

Nguyễn Thiếu Nhẫn

Hỡi ơi! Cũng một kiếp người
Kẻ thì lưu xú, người thời lưu danh!


LTG: Theo tin báo chí trong nước thì nhạc sĩ Phạm Duy đã qua đời vào ngày 27-1-2013, hưởng thọ 92 tuổi.

Cách đây 18 năm, năm 1995, khi nhạc sĩ Phạm Duy tổ chức ra mắt Hồi Ký, tôi có viết bài “Phạm Duy vẫn ở thôn Đoài”, tựa lấy từ một bài viết của nhà thơ Trần Dạ Từ.

Năm 2005, tôi bổ sung thêm một số chi tiết sau khi nhạc sĩ Phạm Duy tuyên bố những lời nịnh bợ VC để xin xỏ về nước, trả lời phỏng vấn vung vít nhục mạ người Việt hải ngoại trên các báo ở trong nước. Và đổi tựa bài viết thành “Phạm Duy vĩnh biệt thôn Đoài”.

Mới đây, tình cờ đọc bài phỏng vấn Phạm Duy của trang mạng Việt ngữ của đài BBC, thấy những câu trả lời của Phạm Duy mà tội nghiệp cho nhân cách của ông ta.

Ai cũng biết cái trang mạng Việt ngữ của đài B(ọn) B(ọ) C(hét) là cái trang mạng của tên tay sai VC Nguyễn Giang.

Trang mạng này hết đưa bài viết của ả Tiến sĩ mén Đỗ Ngọc Bích, đến đưa bài phỏng vấn tên Tướng nằm vùng Nguyễn Hữu Hạnh để nhục mạ chế độ VNCH.

Mới đây, tên này lại viết bài ca tụng cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của ký giả VC Huy Đức lên tới tận mây xanh.

Tất cả những việc làm này đều có mục đích phân hoá cộng đồng người Viêt tỵ nạn cộng sản theo chủ trương, đường lối của nghị quyết 36.

Khi đài BBC hỏi: “Ở Phillipines, ông đã viết “Tị nạn ca”, “Nhục ca” có đúng không?”

Nghe Phạm Duy trả lời: “Những bài đó là những bài soạn ra trong lúc hoảng hốt, không nên nhắc đến làm gì. Tôi quên rồi”, nghe thiệt là tội nghiệp cho thân phận những kẻ hàng thần!

Đài BBC hỏi: “Bài “Quê nghèo” thì ông diễn tả điều gì?”

Phạm Duy trả lời: “Tôi không xa kinh kỳ sáng chói”, có những ông già “Cày bừa thay trâu” thì khổ quá. Đó là một bài mà nhiều người VN rất cảm động, rất thích, là bởi tôi nói được những cái đó lên”.

Rất là chua xót khi nghe nhạc sĩ Phạm Duy tự khoe mình là “nói lên được cái cảnh có những ông già cày bừa thay trâu từ mấy mươi năm trước”; nhưng nay nhạc sĩ Phạm Duy không chịu nói lên dùm những cái thảm cảnh của những phụ nữ mà cả mẹ con phải khoả thân để giữ lại mảnh đất để cày bừa sinh sống mà bọn công an VC nó vẫn nhẫn tâm lôi đi sềnh sệch như lôi những con vật để chiếm đất của người dân!

Và càng mỉa mai hơn khi trang mạng Việt ngữ của đài BBC đi cái titre: “Tôi về đây là vì tôi yêu nước” bên cạnh bức ảnh của một ông già trên 90 tuổi là nhạc sĩ Phạm Duy.

(xem link: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/12/121219_phong_van_pham_duy_phan_2.shtml)

Xin thưa ngay đây chỉ là cái tựa của một bài viết để quý vị có quen biết với nhạc sĩ Phạm Duy khỏi thắc mắc, chất vấn vì ông ta ở Midway City mà ông ta thường dịch ra là “Thị Trấn Giữa Đường” chớ đâu có ở thôn Đông, thôn Đoài nào đâu mà bảo là Phạm Duy vĩnh biệt …thôn Đoài!
Vào năm 1995, chúng tôi có viết bài “Phạm Duy vẫn ở thôn Đoài”, lấy từ tựa đề do nhà thơ Trần Dạ Từ đặt, và tờ báo đăng tải bài viết này là tạp chí Thế Kỷ 21. Vào khoảng năm 1993, khi mới định cư ở Thụy Điển, nhà thơ Trần Dạ Từ được nhạc sĩ Phạm Duy nhờ viết lời giới thiệu cho quyển Hồi Ký. Trong bài viết đại ý nhà thơ ca ngợi là tù nhân ở nơi nhà thơ bị giam giữ là trại tù Phan Đăng Lưu rất “biết ơn” nhạc sĩ Phạm Duy đến nỗi cứ khi vắng mặt cai tù là các tù nhân bèn “ới” nhau “Phạm Duy đi”, tức mang nhạc Phạm Duy ra mà hát.
Dù thiên kiến đến thế mấy, chúng ta cũng không thể phủ nhận nhạc sĩ Phạm Duy là một thiên tài đã đóng góp rất nhiều cho nền âm nhạc Việt Nam. Chúng ta “mang ơn” Phạm Duy cũng như chúng ta đã “mang ơn” Nguyễn Trãi với “Bình Ngô đại cáo”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/Quân điếu phạt chỉ vì khử bạo”; mang ơn thái-sơn-lục-bát Nguyễn Du với “chữ tài liền với chữ tai một vần/Hải đường lả ngọn đông lân/Giọt sương treo nặng cành xuân la đà/Rằng trong lẽ phải có người, có ta”; mang ơn Nguyễn Đình Chiểu với “Trai thời trung hiếu làm đầu/Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”; mang ơn Lam Phương với “em ơi nếu một không thành thì sao/Non cao đất rộng biết đâu mà tìm?... Tàu đưa ta đi tàu sẽ đón ta về. Quê hương sẽ sống lại yêu thương…” v.v…
Với bài viết này, người viết không làm chuyện khen phò mã tốt áo! Cũng không có ý đả kích nhạc sĩ Phạm Duy. Chúng tôi chỉ xin ghi lại những bài báo ở hải ngoại cũng như ở trong nước có liên quan đến nhạc sĩ Phạm Duy, để độc giả có cái nhìn chính xác về những việc làm của nhạc sĩ Phạm Duy.

*
-Bài thứ nhất là một trích đoạn trong bài “Buồn vui Cali”, tác giả là Người Cali, đăng trong tạp chí Dân Chủ Mới số 43, phát hành vào tháng 6 năm 1995, như sau:
“…Thêm một Phạm Duy, ngày xưa nhà cao cửa rộng, con cái toàn làm lính kiểng, nhờ những bài “Tình ca”, “Kỷ vật cho em”… chửi Cộng sản và mang tình tự dân tộc, giờ đã mấy phen xin về Việt Nam nhưng bị tụi Việt Cộng từ chối. Ông “già không nên nết này” đã trả lời cuộc phỏng vấn của nhật báo “Người Việt” ra ngày thứ Sáu 28-4-95 trong bài “Cảm nghĩ của người Việt hải ngoại về 30/4”, do ký giả Lý Kiến Trúc thực hiện rằng: “Trong hai mươi năm thế giới đã đổi thay, Berlin đã thay đổi thì tất nhiên Hà Nội cũng phải thay đổi. Và tôi, tôi cũng thay đổi cái suy nghĩ của tôi, cũng như một số người khác, về cuộc sống ở đây. Ví dụ như những năm đầu đến Mỹ, tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ sống và chết ở đây, nhưng hôm nay tôi lại thấy tôi có thể về được. Đừng bắt tôi suy nghĩ như năm bảy mươi nhăm. Về cái cuộc sống của tôi, thì trước kia tôi chuẩn bị chết ở đây, còn bây giờ tôi chuẩn bị chết ở Việt Nam. Điều đó có ảnh hưởng đến công việc làm. Như trước kia, tôi cũng như mọi người, chống một cái gì đó đến tận cùng… cho đến bây giờ cái lối chống cũ nó không cải tiến được, nên cũng chẳng gọi là theo được.”
Để kết thúc bài phỏng vấn, nhật báo Người Việt hỏi nhạc sĩ Phạm Duy cảm tưởng về ngày 30-4, ông hoan hỉ trả lời: “Tôi rất vui mừng, vì tôi cảm thấy cái ngày tôi chết… tôi sẽ chết tại quê hương, chứ không phải tôi sống tại quê hương, không lâu đâu…”
Đó, những lời tâm huyết của một thiên tài âm nhạc của Việt Nam Cộng Hòa trước đây như thế đấy! Nhà thiên tài đã viết trong cuốn hồi ký của đời mình rằng ông ta đã từng “có hơn hai trăm mối tình mật thiết với đàn bà” trong thời gian ông ta nổi tiếng và đã có gia đình, “bỏ vùng Cộng sản về với Quốc Gia vì sinh kế, chứ không phải vì lý tưởng…”

-Bài thứ hai, được đăng ở trang 26, tạp chí Thời Sự số 2 ở Florida như sau:
“Nhạc sĩ Phạm Duy có chụp hình chung với Đại sứ Việt Cộng hay không?”
Gần đây có một vài tờ báo đưa tin nhạc sĩ Phạm Duy đã đến tòa Đại sứ CS Trịnh Ngọc Thái vào ngày 7-1-95. Tin này đã gây xôn xao dư luận không ít trong hàng ngũ những người Quốc Gia từng yêu mến một nghệ sĩ tài ba tên tuổi như nhạc sĩ Phạm Duy.
Chúng tôi đã gặp nhạc sĩ Phạm Duy và đã được nhạc sĩ cho biết như sau:
“Tôi xin khẳng định với quý anh là Phạm Duy này không hề quen biết với ông đại sứ Trịnh Ngọc Thái bao giờ để mà nói câu như thế, cũng chưa từng chụp hình với ông ấy. Bức hình mà một số báo đưa ra là hình tôi chụp với một người bạn thân tên Nguyễn Văn Tuyên tại nhà riêng của ông ấy, chứ không phải Đại sứ Cộng sản Trịnh Ngọc Thái.”
Nhạc sĩ Phạm Duy còn cho biết ông đã yêu cầu tờ Ép-Phê ở Paris do ông Trần Trung Quân chủ trương đăng tin sai phải đính chính, nếu không ông sẽ đưa ra tòa về tội vu cáo. Tạp chí Ép-Phê đã đăng lời “cáo lỗi” trên mặt báo, nguyên văn như sau:
“Cáo lỗi
Trong ấn bản số 4, phát hành tháng 2-1995, nơi trang 12, phóng viên Dương Thiện Ý đã viết: “Nhạc sĩ Phạm Duy tuyên bố: Tôi bỏ chiến khu đi ra thành chẳng qua vì cuộc sống kinh tế. Thực tâm mà nói, 40 năm nay tôi chẳng ưa thích gì ‘bọn ngụy miền Nam’, cùng với một tấm hình với lời ghi chú: ‘Từ trái qua phải: Đại sứ VC Trịnh Ngọc Thái, Phạm Duy và ông Trần Văn Khê.’
Nay phối kiểm lại, nhạc sĩ Phạm Duy cho biết ông chỉ chụp hình chung với ông Trần Văn Khê và một người bạn thân chứ không phải là đại sứ VC Trịnh Ngọc Thái, cũng như chưa bao giờ tuyên bố câu nói trên. Thành thật xin lỗi nhạc sĩ Phạm Duy về sự sơ suất ngoài ý muốn này
Tạp chí Ép-Phê.”

-Bài thứ ba là một trích đoạn trong bài “Từ Chế Lan Viên đến Nam Chi – 4 Điểm Chiến Thuật Trong Âm Mưu Du Kích Văn Hóa của Cộng sản” của tác giả Trần Ngọc Lũ, đăng trên tạp chí Tân Văn số Xuân Mậu Thìn như sau:
“… Có lần trong bài viết có tựa đề ‘Văn hóa thực dân mới chết hay chưa chết?’ đăng trên tạp chí Văn Học, Hà Nội số 5-6-1985. Chế Lan Viên quai mỏ ra chửi rủa Phạm Duy:
“Cái anh nhạc sĩ dân ca, dâm ca, tục ca từng tuyên bố: “Moa thì có lý tưởng mẹ gì ngoài tình và tiền”, anh ấy năm kia lại giở trò lý tưởng rồi. Đêm ấy tôi ở Bruxelles (Bỉ) đang nói chuyện với anh chị em Việt kiều, thì cách chỗ tôi một cây số thôi, Phạm Duy cùng đoàn nghệ thuật của anh ta đang thóa mạ Tổ quốc.”
Hai năm sau, trên tạp chí Sông Hương số 21, xuất bản tại Huế vào tháng 9-86, cũng lại Chế Lan Viên viết về Phạm Duy, nhưng giọng điệu khác hẳn. Tưởng như lúc này cuối năm 1986, Chế Lan Viên vừa viết vừa cầm khăn mù-xoa thút thít:
“Mất Phạm Duy, chúng ta tiếc lắm, vì anh có tài lớn. Nhưng chúng ta làm sao được! Anh ấy bỏ chúng ta chứ chúng ta đâu có bỏ anh. Hồi đi Bình Trị Thiên với tôi năm 49, anh viết “Bên ni, bên tê”, “Bà mẹ Gio Linh” rất xúc động. Nhưng anh đã “dinh tê” về Hà Nội…
Sau chiến thắng vĩ đại của ta hồi năm 75, hình như anh lại xúc động lại. Anh Trần Văn Khê ở Pháp về, hỏi ý kiến anh Tố Hữu, anh Tố Hữu bảo “bỏ khúc giữa, lấy khúc đầu và khúc đuôi.” Nghĩa là quên đi thời Phạm Duy theo Pháp và theo Mỹ, chỉ nhớ cái gì đẹp nhất trước kia và nên, sau này…
… Chúng ta kiên trì, nhưng biết làm sao được! Nếu Phạm Duy cóc cần sự kiên trì ấy, 1979 tôi đang ở thủ đô Bruxelles của Bỉ. Đêm ấy cách chỗ tôi 800 mét, đoàn của Duy đang biểu diễn và chửi rủa chúng ta. Tôi chỉ biết nhắn:
-Mọi người đều tùy thích có thể yêu thương hay nguyền rủa trong đời. Nhưng tổ quốc chúng ta đang ốm… Cần gì phải chửi, chờ cho mẹ khỏe ra, giàu lên rồi ai muốn đi đâu thì đi.”
Hai bài viết, cách nhau hai năm. Vẫn cũng một người viết về một người khác mà sao giọng điệu cứ như nước với lửa? Tôi không nói đến sự ngụy biện cố tình đồng hóa Tổ quốc với chế độ Cộng sản của Chế Lan Viên. Chỉ xin bạn đọc lưu ý sự khác nhau trong hai bài viết về cách gọi tên. Ở bài đầu, viết 1984, đăng báo 1985, là “cái anh nhạc sĩ”, “anh”, “anh ấy”…một cách trịch thượng hằn học, xấc láo. Ở bài dưới, viết và đăng cuối 1986, ngược lại, rất ngọt ngào. Hoặc gọi là “anh”, “anh Phạm Duy”. Ra vẻ kính mến. Hoặc gọi “Phạm Duy” không. Ra vẻ thân mật. Hoặc gọi là “Duy” thôi. Ra chừng âu yếm.
… Tại sao bỗng dưng Chế Lan Viên viết về Phạm Duy và đổi giọng ngọt nào với Phạm Duy?
Câu trả lời đầu tiên là: nhờ Trần Văn Khê.
Hãy để ý đến câu văn thật ngắn trong đoạn viết về Phạm Duy của Chế Lan Viên mới dẫn ở trên: “Anh Trần Văn Khê ở Pháp về, hỏi ý kiến anh Tố Hữu…” Trần Văn Khê hỏi ý kiến Tố Hữu về việc gì? Về Phạm Duy. Trước khi đi hỏi ý kiến, Trần Văn Khê làm gì? Báo cáo. Có lẽ nắm bắt được một nét giao động, buồn nản nào đó trong tâm lý Phạm Duy những ngày khắc khoải lưu xứ ở nước ngoài. Trần Văn Khê về báo cáo ngay với “lãnh đạo” bàn bạc ra lệnh. Kẻ thừa hành là Chế Lan Viên. Đoạn viết về Phạm Duy của Chế Lan Viên là một nỗ lực “chiêu dụ” trong âm mưu du kích văn hóa của Cộng Sản nhắm vào Việt kiều.

-Bài viết thứ tư, do tạp chí Làng Văn ở Canada đăng tải, đại ý cho biết trong lần gặp gỡ học giả Lê Hữu Mục ở Quận Cam, nhạc sĩ Phạm Duy đã tuyên bố là “ông ta sáng tác nhạc trong cầu xí”, là “ông ta không chống Cộng , chỉ có chống gậy mà thôi”, và “nếu ai cho ông ta 10 ngàn đô-la ông ta sẽ sáng tác nhạc ca tụng Hồ Chí Minh (sic!)”. Dư luận rùm beng lên. Nhạc sĩ Phạm Duy tuyên bố ông ta không có tuyên bố những lời bậy bạ như thế và cho biết sẽ mướn luật sư kiện tờ báo nào đã vu cáo cho ông ta, nhưng không hiểu vì sao, sau đó, mọi chuyện đều chìm xuồng.
Ít lâu sau, cũng theo tin báo chí, nhạc sĩ Phạm Duy đã được VC cho phép về Việt Nam. Khi trở lại Hoa Kỳ ông ta tuyên bố sẽ về Việt Nam mở hai quán cà phê lấy tên “Phạm Duy”, một tiệm ở Hà Nội, một tiệm ở Sàigòn thì tha hồ mà hốt bạc (sic!).

-Bài viết thứ năm là một bài phỏng vấn do phóng viên Nguyễn Đông Thức của tuần báo Tuổi Trẻ ở trong nước, có nội dung như sau:
Phóng viên (PV): 30 năm qua, ông vẫn sáng tác đều đặn?
-Phạm Duy (PD): Vâng. 30 năm ở Mỹ, tôi viết được khoảng 300 ca khúc. Và riêng trong 10 lần về nước bốn năm qua, tôi đã viết được tập Hương ca, gồm 10 ca khúc về quê hương, bắt đầu với Trăm năm bến cũ (phổ nhạc bài thơ Về thôi của Lưu Trọng Văn), Hương rừng (phổ vài câu thơ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam), Lời mẹ dặn (phổ thơ Phùng Quán)… và kết thúc bằng Tây tiến (thơ Quang Dũng), thể hiện sự hùng tráng của dân tộc Việt… Mong ước thứ ba hiện nay của tôi là được giới thiệu các ca khúc này với đồng bào trong nước.
-PV: Mong ước thứ ba, ở tuổi 85? vậy còn thứ nhì, thứ nhất?
-PD: Tôi vừa nộp đơn xin Nhà nước Việt Nam cho phép phổ biến 9 ca khúc cũ của tôi, gồm 5 ca khúc tôi viết trong thời gian dân tộc kháng chiến chống Pháp (Tình ca, Bà mẹ Gio Linh, Quê nghèo, Nương chiều, Ngày trở về) và 4 ca khúc phổ thơ (Áo anh sứt chỉ đường tà - phổ Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Ngậm ngùi - thơ Huy Cận, Mộ khúc – thơ Xuân Diệu, Thuyền viễn xứ - thơ Hà Huyền Chi). Đây chính là mong ước thứ nhì của tôi. Nhưng điều mà tôi đang thiết tha mong đợi nhất chính là được trở về sống và làm việc hẳn ở quê nhà. Tôi mong được về hẳn, đưa tất cả con cái cùng sự nghiệp của mình về…
-PV: Vì sao và từ khi nào ông muốn về?
-PD: Năm 1994, tôi được anh Lưu Trọng Văn – là con của một người bạn tôi, nhà thơ Lưu Trọng Lư - tặng cho bài thơ Về thôi. Có mấy câu đã làm tôi hết sức xúc động và quyết định phải về: Về thôi… Làm gì có trăm năm mà chờ. Làm gì có kiếp sau mà đợi… Vâng, thật sự tôi đã muốn về từ lâu. Tôi đã quyết định chuyển sang bước sáng tác mới. Bài “Về thôi” của anh Văn càng cho tôi thấy rõ tôi chẳng còn được bao năm nữa, đã muốn làm gì thì phải làm ngay thôi…
-PV: Nếu được cho phép trở về, ông sẽ làm gì?
-PD: Tôi sẽ viết thêm một số ca khúc về quê hương sau một chuyến đi xuyên Việt, tiếp tục nghiên cứu dân ca và sẽ xin phép được… biểu diễn.
-PV: Ông vẫn có thể hát ở tuổi này?
-PD: Chứ sao!
Và nhạc sĩ Phạm Duy lập tức hát cho tôi nghe bài Trăm năm bến cũ. Tôi nhìn người nhạc sĩ già đang nhắm mắt say sưa hát và thầm nghĩ cuộc hành trình “nghìn trùng xa cách” về lại bến cũ của ông chắc chắn sẽ không chút dễ dàng, nhưng quả thật ông không còn nhiều thời gian để có thể chờ đợi lâu hơn. Dù ông đã có làm gì đi nữa thì tôi vẫn tin trong sự rộng mở của dân tộc Việt, sau cùng ông sẽ thực hiện được mong ước lớn cuối đời: về với quê nhà, với nơi chốn đã từng cho ông viết những câu “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…” và nhiều ca khúc nữa một thời đã làm rung động biết bao người.”

-Bài viết thứ sáu là bài “Nhạc sĩ Phạm Duy, những dự định, niềm vui và niềm tin” được đăng tải trên bán nguyệt san Trẻ, số 174, phát hành ngày 15-02-2005. Tạp chí Trẻ có tòa sọan tại Westmister, Nam California. Đây là một số trích đoạn trong bài phỏng vấn này:
-Bác nghĩ như thế nào khi 30 năm qua Nhà nước Việt Nam chưa cho phổ biến tác phẩm nào của nhạc sĩ Phạm Duy?
-Theo tôi nghĩ. Chính quyền nào cũng có một đường lối chính trị. Trong giai đoạn trước, đất nước đã có sự phân chia rõ rệt. Có người coi tôi là người của “quốc gia”, nhưng nói thế thì hơi quá. Suy cho cùng thì tôi cũng chỉ là một nhạc sĩ. Trong cuộc chia cắt đất nước suốt một quãng thời gian dài 20 năm, có thể có những tác phẩm của tôi không được sự đồng tình của bên này hay bên kia, nhưng với thời cuộc lúc bấy giờ, cũng như một số người khác tôi không thể chống lại chính quyền Sàigòn, có nhiều lúc tôi không thể làm gì khác ngoài cách viết để kiếm sống và để kéo “một đoàn tàu” gồm 1 vợ 8 con. Nếu xét về dĩ vãng thì ai cũng có tội hết. (do người viết bài này gạch đít).
-Thế trong 30 năm sống trên đất Mỹ, bác đã có tham dự những tổ chức nào chống lại Nhà nước Việt Nam, đã lên diễn đàn hoặc đã phát biểu trước giới báo chí những lời chống lại Nhà nước Việt Nam không?
-Ô không! Never and never! Tôi không quan tâm tới những chuyện đó, mặc dù gia đình tôi có nhận những lá thư mời gọi tham gia các tổ chức này nọ. Nhưng cả nhà chúng tôi không một ai tham gia một đảng phái chống đối nào. Với giới báo chí cũng vậy, tôi không hề phát biểu điều gì chống lại quê hương. Nếu quý vị biết có một tờ báo nào đã đăng tin tôi về điều này quý vị hãy cho tôi biết để tôi cải chính…
-Bác quả là một người lạc quan. Nhưng ngẫm lại chặng đường dài của cuộc đời mình, bác có thấy trong lòng còn điều gì ray rứt, buồn phiền hay phải hối hận không?
-Trước kia, có một người bạn là ông Tạ Tỵ đã viết quyển sách về tôi với tựa đề “Phạm Duy, còn đó nỗi buồn”. Có lần ông ấy hỏi tôi về nỗi buồn và tôi trả lời: “Tôi buồn vì tôi thành công mà đất nước thì chưa thành công. Tôi đã thành công và được công chúng đón nhận ngay từ tác phẩm đầu tay “Cô Hái Mơ” phổ thơ Nguyễn Bính, hồi ấy số lượng nhạc sĩ sáng tác khá ít ỏi, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Còn đất nước lúc bấy giờ đang bị chia cắt hai miền, năm 72 chiến sự quyết liệt dữ dội kéo theo nhiều điều nghiệt ngã đau buồn. Theo tôi, đất nước chỉ thành công khi nào núi sông liền một dải, nhân dân được sống trong hòa bình, no ấm… Nhưng ông ấy không hiểu ý tôi nên đã viết một cách chủ quan tùy tiện về những chuyện tình cảm và chuyện vui chơi lan man. Mặc dù nội dung tác phẩm ông ấy hết lời ca ngợi Phạm Duy, nhưng theo tôi, đó chỉ là quyển “Phạm Duy còn đó nỗi buồn, cười”. Và tôi đã không muốn nhắc đến trong hồi ký của tôi.
-Thế, có còn niềm ray rứt nào làm nhạc sĩ Phạm Duy nặng lòng khi trở về Việt Nam?
-Tôi không quan tâm về thế chế chính trị. Tôi chỉ cần một quần chúng để tôi hát. Những lần về nước trước đây, thú thật tôi vẫn cảm thấy lòng buồn bã và khắc khoải. Vì thấy cái chỗ đứng của nhạc sĩ Phạm Duy trong lòng công chúng còn quá chông chênh. Vâng, tôi cảm thấy mình như một thân cây đã bị nhổ lên đem trồng ở một vùng đất khác, bây giờ đem về trồng lại trên mảnh đất cũ ngày xưa thì bộ rễ chưa thể cắm sâu vào lòng đất, nên thân cành vẫn chông chênh, nghiêng ngả. Bây giờ thấy Duy Quang được hát trước đông đảo khán giả Việt Nam, được hoan nghênh xem như là 50% tôi rồi. Tôi về đây xem như được 100% rồi…
-Bác đã ví mình như một thân cây đã nhổ lên đem trồng ở một vùng đất khác, giờ đem về trồng lại trên mảnh đất cũ thì bộ rẽ chưa thể cắm sâu vào lòng đất, nên thân cành vẫn chông chênh – đó là sự khắc khoải trong cảm nhận của những lần về nước trước đây. Còn bây giờ? Bác mong ước gì khi trở về VN lần này.
-Tôi rất vui khi thấy đất nước ngày càng có nhiều chính sách cởi mở thông thoáng với kiều bào, nhất là khi Nghị quyết 36 kêu gọi thực hiện sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt thành phần và lý do ra đi… Ở tuổi 85, mong muốn cuối đời của tôi là được trở về sinh sống trên quê cha đất tổ, theo quy luật mà ông bà ta đã đúc kết “lá rụng về cội” Là người nghệ sĩ, tôi tha thiết mong muốn được góp phần vào đời sống âm nhạc tại quê nhà…
-Trong cả gia tài gần một ngàn tác phẩm, bác nghĩ những tác phẩm nào của bác sẽ được các cấp có thẩm quyền xem xét đồng ý cho lưu hành?
-Tôi nghĩ nếu phải bỏ đi 50% tôi cũng thực sự vui lòng. Tôi nghĩ đó là một sự “gạn đục khơi trong” cần phải có. Cái gì đục thì mình mạnh dạn bỏ đi, những gì tinh khôi trong trẻo thì nên giữ lại.
-Bác có tin là ý nguyện của Bác sẽ được cấp có thẩm quyền chấp thuận?
-Trước kia thì không, nhưng bây giờ thì tôi rất hy vọng Nhà nước sẽ xem xét và sớm chấp thuận. Tôi thực sự cảm động khi vừa qua, con tôi là ca sĩ Duy Quang đã được Nhà nước cho phép được biểu diễn tại Việt Nam, điều đó tạo cho tôi một niềm tin rằng Chính phủ Việt Nam luôn rộng lượng đối với những người Việt Nam muốn trở về đóng góp xây dựng đất nước.”

*
Bài viết của nhà thơ Chế Lan Viên cách đây 20 năm nằm trong âm mưu “chiêu dụ những người có tài, có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Để họ động lòng đừng tiếp tục đấu tranh. Để họ làm ngơ mặc kệ bao nhiêu tội ác đang hoành hành trên quê hương khốn khổ. Để những tù nhân chính trị tại Việt Nam vẫn cứ “bình yên” trong các trại tù. Để hàng triệu người dân vô tội tiếp tục bị xua đi vùng kinh tế mới như những bầy súc vật. Để họ cứ tiếp tục hát tình ca, làm văn chương thuần túy dỗ giành nhau thiếp dần trong giấc ngủ lưu đày.”
Nhạc sĩ Phạm Duy là một người có tài, có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Việt Cộng tìm cách “chiêu dụ” ông là chuyện không có gì khó hiểu. Báo chí hải ngoại viết về ông là chuyện đương nhiên.
Khi nhạc sĩ Phạm Duy chối cãi và hăm dọa “kiện đứa nào” nói ông về Việt Nam, chúng tôi có viết bài “Phạm Duy vẫn ở thôn Đoài”. Bài viết này đã được phổ biến trên nhiều tờ báo tại hải ngoại, vào năm 1995
Mới đây, qua hai bài trả lời phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ ở trong nước và bán nguyệt san Trẻ tại hải ngoại, đọc những câu nhạc sĩ Phạm Duy xum xoe, bợ đỡ Nhà nước VC, gửi đơn đến Bộ Thông Tin, Văn hóa, Cục Nghệ thuật biểu diễn và các cơ quan liên hệ xin xỏ để được “hoạt động thu âm, thu hình và phổ biến tác phẩm”, bắn tiếng dù cho Nhà nước VC có dẹp bỏ 50% sáng tác của ông thì ông cũng rất vui lòng… những người đã từng ái mộ nhạc sĩ Phạm Duy bỗng cảm thấy “thần tượng” của mình hoàn toàn… sụp đổ!
Nghe nhạc sĩ Phạm Duy cho biết là ông ta quyết định trở về Việt Nam vì được Lưu Trọng Văn tặng cho ông ta bài thơ “Về thôi” vào năm 1994, mọi người đều cảm thấy ngỡ ngàng; nhưng những ai có đọc bài viết “Quê hương, lối về” đăng trên tạp chí Pháp Luật số Xuân Nhâm Ngọ (năm 2000) ở Việt Nam, thì chẳng có gì ngạc nhiên.
Lưu Trọng Văn là nhà văn gốc bộ đội, con của nhà thơ Lưu Trọng Lưu, mà nhạc sĩ Phạm Duy khoe là bạn của ông ta. Trong bài viết “Quê hương, lối về”, Lưu Trọng Văn đề nghị lập ra một “Bộ người Việt Nam ở nước ngoài” để quản lý Việt kiều hải ngoại như sau:
“Chúng ta có các sứ quán nhưng trách nhiệm lớn nhất của các sứ quán là công tác ngoại giao nên không hề có bộ phận quản lý nhà nước giúp đỡ những công dân Việt hoặc Việt kiều ở nước sở tại. Chúng ta có Ủy ban Người nước ngoài nhưng Ủy ban này lại chưa được đặt ngang tầm một cơ quan lớn của chính phủ và cũng không có các văn phòng đặt ở nước ngoài. Nhiều bà con Việt kiều cho rằng Quốc hội cần lập ra một bộ, đó là ‘Bộ người Việt Nam ở nước ngoài.’ Tất cả các việc liên quan đến Việt kiều, bộ này có trách nhiệm lo. Khi hình thành ‘Bộ người Việt Nam ở nước ngoài’, chúng ta mới có bộ máy kinh phí để trước hết thống kê ba triệu người Việt Nam ở nước ngoài sinh sống ra sao, làm việc ra sao, có nhu cầu gì…”
Trong bài viết, Lưu Trọng Văn cho rằng Việt Nam ngày nay đổi mới rồi, và dẫn chứng những người “có vấn đề” với Đảng và Nhà nước bây giờ đã về Việt Nam rất thoải mái – như giáo sư Nguyễn Ngọc Giao, giáo sư Đặng Tiến, nhạc sĩ Phạm Duy. Sợ người đọc không tin, bài viết của Lưu Trọng Văn còn đăng kèm hình Đặng Tiến, Phạm Duy chụp chung với những cán bộ Cộng Sản thứ thiệt như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường - những kẻ đã chít “dải khăn sô cho Huế” vào Tết Mậu Thân 1968. Trong bài viết, Lưu Trọng Văn còn quả quyết nhạc sĩ Phạm Duy có tới thăm mộ cha ông là nhà thơ Lưu Trọng Lư.
Để được thực hiện ước mơ cuối đời là được về sinh sống ở Việt Nam và “làm được một đêm nhạc ‘Phạm Duy cuối đời nhìn lại”, do chính ông ta đứng điều khiển từ đầu tới cuối,” qua hai bài phỏng vấn, nhất là bài phỏng vấn của bán nguyệt san Trẻ có toà soạn tại Westminster tại Hoa Kỳ, nhạc sĩ Phạm Duy đã phải nói những lời xum xoe bợ đỡ Nhà nước VC làm những người đã từng ái mộ ông lòng tràn ngập đắng cay. Thấy nhạc sĩ Phạm Duy biện bạch là trong 30 năm sống ở hải ngoại chưa bao giờ phát biểu những lời chống lại Nhà nước Việt Nam mà ngán ngẫm. Lại càng ngán ngẫm hơn khi thấy nhạc sĩ Phạm Duy đã phải biện bạch và bác bỏ quyển “Phạm Duy nỗi buồn còn đó” của nhà văn Tạ Tỵ đã viết để ca tụng ông ta vào năm 1972.
Tôi tin rằng nhạc sĩ Phạm Duy đã rất thành thật khi viết trong hồi ký là đã “bỏ vùng Cộng Sản về với Quốc Gia vì sinh kế, chứ không phải vì lý tưởng”. Khi hiệp định đình chiến ký kết vào năm 1954, nhạc sĩ Phạm Duy và gia đình đã cùng 1 triệu người miền Bắc lên tàu há mồm di cư vào Nam sinh sống và sáng tác, nay lại tuyên bố: “Có người coi tôi là người của “quốc gia”, nhưng nói thế thì hơi quá” nghe có vẻ chướng tai làm sao. Chuyện càng trái khoáy là vì muốn “minh định lập trường”, muốn chứng tỏ là mình đã “sáng mắt, sáng lòng” với Đảng và Nhà nước, nhạc sĩ Phạm Duy đã tự mâu thuẫn khi phủ nhận những gì mà nhà văn Tạ Tỵ đã viết về ông trong quyển “Phạm Duy nỗi buồn còn đó” khi phát biểu: “… Tôi buồn vì tôi thành công mà đất nước thì chưa thành công… Theo tôi, đất nước chỉ thành công khi nào núi sông liền một dải, nhân dân được sống trong hòa bình, no ấm”. Không biết nhạc sĩ Phạm Duy sẽ trả lời như thế nào khi Công an Văn hóa thành Hồ đặt câu hỏi: “Vào ngày 30-4-1975, đất nước đã thống nhất, núi sông liền một dải, nhân dân được sống trong hòa bình no ấm… vì sao ông và gia đình lại tìm mọi cách leo lên Đệ Thất hạm đội của đế quốc Mỹ để… chạy trốn tổ quốc cùng với bọn đĩ điếm, ma cô?”
Không ai trách gì một ông già 85 tuổi muốn về Việt Nam để chờ chết. Họa sĩ, nhà văn Tạ Tỵ là một cựu tù nhân chính trị, ở tù VC hơn 10 năm, ra hải ngoại đã viết hồi ký “Đáy Địa Ngục” để tố cáo tội ác của Cộng sản, về cuối đời đã về sống và chết tại Việt Nam.

Khổng Tử có câu: “Ngũ thập tri thiên mệnh”, tức “tới 50 tuổi mới biết mệnh trời”, và “Lục thập nhi thuận nhĩ”, có nghĩa “tới 60 tuổi nghe thấy đều thông hiểu cả”. Nhạc sĩ Phạm Duy tới 85 tuổi mới “tri thiên mệnh”, nhưng vẫn chưa “nhi thuận nhĩ”.
Vì chút quyền lợi cuối đời nhạc sĩ Phạm Duy đã trở về Việt Nam nói những lời xum xoe bợ đỡ, nịnh hót, nhận tội để xin xỏ Đảng và Nhà nước cho ông được “hoạt động thu âm, thu hình và phổ biến tác phẩm”, để làm một đêm nhạc “Phạm Duy cuối đời nhìn lại”.
Tiếc thay! Vì chút danh lợi cuối đời mà nhạc sĩ Phạm Duy đã tự mình… vĩnh biệt thôn Đoài!

Với cá nhân người viết bài viết này, không phải tới ngày 27-1-2013 nhạc sĩ Phạm Duy mới qua đời: Phạm Duy đã qua đời cách đây 8 năm, khi ông quay lưng chối bỏ căn cước tỵ nạn cộng sản để được về Việt Nam sinh sống.

Đó là cái đất nước Việt Nam bị cai trị bởi chế độ Cộng sản bạo tàn mà ông và gia đình đã phải hai lần chạy trốn!

NGUYỄN THIẾU NHẪN

San Jose 27-1-2013
(Theo
www.tieng-dan-weekly.blogspot.com)


NHỮNG KẺ TRẮNG TAY

Nếu công nhận dịch loạn là kết quả của kém năng lực, lười suy nghĩ, tự lừa dối bản thân, coi thường người đọc, trí trá tự biện, xu phụ, tâng bốc, hống hách thì hãy nên trách nền giáo dục đã cho ra những con người ấy. Những bản dịch ấy tồi trước hết vì người dịch không giỏi tiếng mẹ đẻ nên buộc phải làm nô lệ cho ngoại ngữ của bản gốc. Nếu đồng ý với học giả Phạm Quỳnh rằng “tiếng ta còn, nước ta còn”, thì có phải nước ta nay đã mất rồi không? Vẫn còn đấy những con người tóc đen, da vàng, mũi tẹt nhưng hồn vía đã vong căn thất cước từ lâu, không thể nào cảm thụ được cái hay, cái đẹp của tiếng Việt nữa dù họ có thể đọc được vài ngoại ngữ.
Lùi lại một chút để nhìn: Trong vụ án Nhân văn-Giai phẩm, dường như chỉ có Hữu Loan và Thụy An là những người sống khí phách, bất khuất và im lặng đến cùng,[1] những người còn lại hầu hết vẫn cố sống với tinh thần “bị đánh đến chết vẫn cúi lạy cây roi”: vẫn vui vì “được cho” sinh hoạt trở lại ở hội nhà văn”, “được cho” chế độ lương bổng”; Hoàng Cầm còn viết “Về làng Sen”, vân vân.
Là một nạn nhân của “vụ Xét lại chống đảng”, nhà văn Bùi Ngọc Tấn đến nay vẫn còn buồn vì “lương hưu của ông chỉ được tính năm từ 5/1975, không tính 14 năm công tác trước khi hoạn nạn, thời điểm về hưu là 160.000 đồng, nay là 1,4 triệu đồng”. [2]
Có cha bị Việt Minh thủ tiêu mà nhạc sĩ Phạm Tuyên vẫn có thể viết “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, rồi tâm sự “tới nay gia đình ông vẫn luôn mong muốn có một tuyên bố sửa sai chính thức về cái chết của thân phụ ông, học giả Phạm Quỳnh (1892-1945), người đã bị cách mạng hành quyết chỉ vài ngày sau khi Tuyên ngôn Độc lập được đọc ở Hà Nội hôm 2/9/1945”, và ngay lập tức biết thân biết phận nhún nhường: "Đó là mong muốn thôi, còn bây giờ các vị đang lo chuyện kinh tế với các thứ nhiều quá, không biết là đến bao giờ”. [3]
Nhạc sĩ Phạm Duy viết hồi ký xong là chạy về Việt Nam xin ở hẳn, cặp kè bên các quan văn nghệ trong các buổi diễn và toe toét khoe cái dấu ấn “cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”:
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho đến lúc lìa đời vẫn vác đơn xin được cho phổ biến loạt Ca khúc Da Vàng, sau khi đã cố nặn ra những “em ở nông trường em ra biên giới”, “dòng điện như dòng sông cho đời một tấm lòng”, “Sài gòn hai mươi mùa nắng lạ”, mà vẫn bị từ chối lạnh lùng.
Dương cầm thủ Đặng Thái Sơn với giải thưởng Chopin nhiều điều không minh bạch[4] chắc đã quên những gì xảy đến với cha mình - nhà thơ Đặng Đình Hưng - trong vụ án Nhân văn-Giai phẩm, nên vẫn đều đều về Việt Nam biểu diễn và còn sẵn sàng xuất hiện trong những sự kiện vui nhộn.[5]
Giáo sư Ngô Bảo Châu vừa có chút tiếng tăm đã ngửa tay nhận ngay hai cái nhà, một cái để cha mẹ ở, một cái để làm viện toán cao cấp (?) dù đã bị “vỗ mặt” bằng bài báo kết tội ngộ nhận trên tờ Công an Nhân dân.[6]
Nhìn các ca sĩ Việt kiều đang tấp nập xin phép về Việt Nam biểu diễn, chỉ được hát những bài nhà cầm quyền cho phép và đóng thuế cho nhà nước Việt Nam, tôi thấy dường như chỉ mới hôm qua họ còn lên báo đài nước ngoài kể chuyện vượt biên chín phần chết chưa có một phần sống, rằng những người thân của họ còn kẹt lại trong nước cũng bị liên lụy khổ sở như thế nào; dường như chỉ mới hôm qua họ còn nức nở “Anh không chết đâu anh!” thì hôm nay họ đã có thể quên phứt thảm cảnh của hàng ngàn người lính Việt nam Cộng hòa vẫn còn đang phải rên xiết đâu đó chốn rừng sâu nước độc hay nơi đầu đường xó chợ. Muốn trách họ nhưng nhìn lại những bậc cha ông anh chú của họ trên kia, ta còn có thể nói gì đây?
Những nạn nhân của Nhân văn-Giai phẩm và Xét lại chống đảng thì còn bảo họ sống trong khủng bố, đọa đày, tẩy não đến mất hết khí phách, nhưng đến những Phạm Duy và Trịnh Công Sơn sinh ra, lớn lên và thành danh trong không khí tự do của miền Nam, riêng Phạm Duy còn sang Mỹ tị nạn gần 30 năm, sao vẫn sẵn sàng biến mình thành kẻ “hàng thần lơ láo”?
Phải chăng văn nghệ sĩ-trí thức Việt Nam chỉ rất có tài trong lĩnh vực chuyên môn mà thôi, còn nói đến khí phách anh hùng và nhận thức hành vi trong cái nhìn chính trị thì họ chịu? Có dân tộc nào như dân tộc Việt với những cô đào mang cờ quạt đi đón đoàn quân tiến về cướp nước mình như Thẩm Thúy Hằng, soạn bàn thờ cúng lãnh tụ của đoàn quân ấy như Thanh Nga,[7] phỉ nhổ luôn cái xã hội đã nuôi dưỡng nên mình là “vực thẳm” và tung hô cái thiên đường vẽ của kẻ cướp là “chiều cao” như kỳ nữ Kim Cương, không ngần ngại quỳ gối “đài hoa dâng bác” như anh kép Út Trà Ôn? Vậy thì trách gì những kẻ cuồng tín sẵn sàng “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” như Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc? Bùi Tín và Dương Thu Hương khi tỉnh bùa mê rồi vẫn không dám tự nhận một viên đạn vào đầu, dù thảm cảnh của miền Nam có bàn tay họ tiếp sức. Dân tộc nào trên thế giới cũng có những Trần Ích Tắc, nhưng nếu ở mức độ phổ biến ngay trong giới văn nghệ sĩ-trí thức như dân tộc Việt thì phải đặt câu hỏi rằng liệu dân tộc ấy có xứng đáng được hưởng hạnh phúc không?
Nhìn cảnh nhạc sĩ Phạm Duy nhe răng cười khoe cuốn sổ hộ khẩu và cái giấy chứng minh nhân dân, tôi tự hỏi: Phải chăng đây là Phạm Duy khác chứ không phải ông Phạm Duy đã viết “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”? Phải chăng ông Phạm Duy ấy đã chết? Ông Phạm Duy này ngược 180 độ với ông kia nên có thể toe toét khoe cái dấu ấn khổ nhục của chín mươi triệu người dân trong nước mà nếu thiếu nó lập tức người ta bị coi như công dân hạng hai, còn ông thì được ban cho như ân sủng cùng tiếng gọi trìu mến “Việt kiều yêu nước”? Tôi như đã hiểu được tâm trạng của người miền Nam lúc nghe Trịnh Công Sơn hát “Nối vòng tay lớn” trưa ngày 30/04/1975, khi nhìn bức hình này của ông.
Phải chăng nước Việt không thể có những văn nghệ sĩ tuyên bố không về nước biểu diễn chừng nào còn chế độ độc tài vô nhân tính, không cho phổ biến tác phẩm trong các sự kiện quốc doanh, đòi hỏi phải có cải chính và xin lỗi công khai chứ không chỉ âm thầm cho in lại tác phẩm và cho một phần quyền lợi (vốn bị cướp đi) là xong, như đồng nghiệp của họ vẫn làm trên khắp thế giới? Đó là hành động tích cực nhất họ có thể làm để chia sẻ với đồng bào của họ, dân tộc của họ và tỏ rõ chí khí của người có lẽ phải, nhưng họ đã và đang không làm hay không muốn làm.
Vậy nên việc đòi hỏi những Nhạc Bất Quần biết xấu hổ mà bỏ nghề, từ chức, dẹp tiệm hay ít nhất là tổ chức họp báo cũng trang trọng như lúc giới thiệu hàng dỏm[8] để công khai cúi đầu xin lỗi khách hàng là chuyện không tưởng, vì họ là sản phẩm của xã hội cha Liên xô, mẹ Tàu, anh chị em Cuba và Bắc Hàn chứ không phải của xã hội văn minh! Khi cần quảng cáo sản phẩm thì họ không ngại khua chiêng gõ mõ ầm ĩ, nhưng khi bị la ó vì bán đồ dỏm thì họ rắp tâm bịt miệng khách hàng kiểu “bách hóa mậu dịch”[9] và phi tang bằng chứng. Bịt miệng không xong thì đành xin lỗi và đổi hàng (hàng mới không phải do họ tự biết lỗi để sửa) cho yên chuyện, thế là lịch sự hơn chán vạn mấy anh quốc doanh rồi còn đòi hỏi gì nữa! Họ sẽ vẫn cứ dịch, cứ in, sai thì “tái bản có sửa chữa”, ai biết đấy là đâu, làm gì được nhau, cần đọc bản tiếng Việt có mua không thì bảo?!
Những dịch loạn giả hôm nay chỉ là cái tất yếu phải đến trong một xã hội đầy rẫy những bác sĩ đồ tể, giáo viên râu xanh, tiến sĩ giấy, nhân viên hành là chính mà thôi. Với những con người ấy, tinh thần khí phách ấy, năng lực hiểu biết ấy, trình độ xã hội ấy, chẳng phải dịch hạch đã lan tràn khắp mọi miền và ăn sâu vào từng tế bào rồi sao? Chẳng phải cả dân tộc Việt đều là những kẻ trắng tay hay sao?
Tháng Sáu, 2012


PHẠM DUY, LÀ AI?

Tâm Bút: Trần Thị Bông Giấy
I. Mối giao thiệp giữa giáo sư Lê Hữu Mục và tôi tuy chỉ ngắn ngủi qua một lần gặp nhau chớp nhoáng tháng 1/1996 tại Santa Ana và các cuộc trò chuyện viễn liên California & Montréal, nhưng tình thân bác cháu, hơn nữa, một bậc tiền bối và một hàng đàn em, có thể gọi là đáng nhớ. Ông hay cho tôi những lời khuyên hữu ích về cuộc sống, về văn chương, và ngay cả những lời chân tình về nỗi đau khổ riêng trong đời sống tôi.Ông là một trong rất ít người thuộc văn giới hải ngoại đã tạo được nơi tôi lòng kính trọng thật sự. Khi biết ra ông là bạn thân vị giáo sư violon tôi theo học từ bé cho đến khi tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn, thầy Tạ Văn Toàn, tình cảm quý nói trên càng thêm mạnh mẽ. Một sáng tháng 1/1997, tôi gọi qua Montréal thăm ông. Vẫn giọng nói vui vẻ của lần đầu gặp gỡ tại Santa Ana , ông hỏi han rất ân cần về tình hình tờ Văn Uyển, và cả đời sống tôi. Khi nhận biết từ tôi một vài dấu nét chán nản nào đó, ông an ủi: – “Dẫu gì, Bông Giấy cũng đừng bao giờ nên để mất niềm tin về cuộc đời. Sức mạnh chính là nằm ngay trong niềm tin ấy.
(photo)
GS. Lê Hữu Mục
Đánh mất niềm tin có nghĩa tự mình hủy diệt. Với Bông Giấy, bác luôn nghĩ Bông Giấy là người có được cái sức mạnh vừa kể.” Đây là lời nói đầy chia xẻ của một người cha. Tôi cảm ơn ông. Trong câu chuyện, ông cho biết là vừa ở Cali về: – “Bác chờ dịp lên San Jose thăm Bông Giấy mà mãi chẳng có. Phải ở lì Santa Ana . Rốt cuộc tới ngày về, cứ tiếc mãi.” Tôi nói qua điện thoại:- “Lúc này cháu tu bác ạ. Đóng cửa đọc sách, không giao tiếp thiên hạ. Nhân tình thế thái làm cháu chán ngán. Bác qua Santa Ana thấy có gì vui?”
Ông đáp: – “Vui thì vui nhưng cũng lắm chuyện kỳ cục.” “ Cali là đất luôn nảy ra những điều kỳ cục”, tôi đồng ý. “Nhưng theo bác, kỳ cục thế nào?” Giọng ông sôi nổi: – “Kỳ cục nhất là các câu tuyên bố của ông Phạm Duy.” Tôi cười:- “Tưởng ai, té ra ông Phạm Duy! Ông ấy vốn ăn nói bậy bạ từ khuya, cả nước đều biết!” Ông Lê Hữu Mục la to: – “Lần này khác.Trong một buổi gặp nhau tại nhà ông ấy có mặt bác, ông Cao Tiêu, Đại tá Chiến Tranh Chính Trị và ông Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hoạch, giáo sư khoa trưởng Đại Học Văn Khoa Sàigòn thời cũ, Phạm Duy đã nói lên những điều vô cùng kỳ cục. Ví dụ ông ấy bảo: ‘Chúng nó sao cứ thích nhạc của tôi mà không biết rằng các ca khúc trước kia, tôi đều chỉ sáng tác trong chuồng xí! Bây giờ tôi làm nhạc opéra, sang hơn nhiều. Opéra của tôi mà về Việt Nam thì tôi có tới 8 Ái Vân hát chứ không phải một Ái Vân như ở hải ngoại. Chỉ Việt Nam mới có nền nhạc chân chính, còn nhạc hải ngoại chỉ là nhạc tào lao’!”Tôi kêu lên: – “Qua tư cách bác và cả ‘tư cách’ ông Phạm Duy, cháu tin lời bác là thật. Ông ta là một khuôn mặt nổi của nền ca hát Việt Nam , cháu khó thể nghĩ được lối nói ông ta lại hồ đồ như vậy.” Ông Lê Hữu Mục tiếp: – “Một câu khác: ‘Người ta cứ bảo tôi chống Cộng nhưng thật thì tôi chống gậy!’” Nói xong, ông Lê Hữu Mục cười to.
Tôi nhớ nhanh ba chữ “tên dâm tặc” một lần Nguyễn Tất Nhiên đã dùng khi nhắc đến Phạm Duy trước mặt tôi và Trần Nghi Hoàng. Tôi cũng nhớ đến câu của Mai Thảo bình về Phạm Duy trước một số đông người tại nhà Như Hảo: ‘Phạm Duy già như thế còn làm được cái chuyện ấy thì nó không phải người, mà chính là quỷ!’” [Đầu tháng 9/1995, trong một buổi tiệc tại nhà tôi, có mặt Văn Thanh và vợ chồng Như Hảo, khi nói về cuốn Một Truyện Dài Không Có Tên, Văn Thanh nhận định:
"Trong đêm Hai Mươi Nam Văn Học Hải Ngoại do Du Tử Lê tổ chức tại Santa Ana , tôi gặp gần 150 văn nghệ sĩ nhưng nhận xét rằng chẳng ai có được cái Dũng của Bông Giấy trong ngòi viết, kể cả tôi nữa. Này nhé, bây giờ nói cụ thể về buổi họp mặt tại nhà chị Như Hảo, ông Mai Thảo nói cũng hay và ông Phạm Duy nói cũng hay, bao nhiêu người đều nghe rõ.Vậy mà khi tôi tươm lên báo những gì hai ông ấy nói thì ông Phạm Duy nhảy chồm chồm lên, đe là sẽ cho cái tụi đàn em nó đánh tôi. Rồi ông ấy gọi cho chị Như Hảo bảo không được đăng bài viết của tôi trên báo chị. Ông nói thẳng rằng không muốn có tên Mai Thảo đứng chung với tên ông ấy. Phạm Duy là một nghệ sĩ lớn mà tâm địa hẹp hòi quá! Tôi ca ngợi Phạm Duy thì phải để cho cuộc đời ca ngợi Mai Thảo, sao lại đòi đập tôi?"
Và Văn Thanh kể:- "Hôm đó, tôi định tổ chức ra mắt cuốn Gái Hà Nội Khóc Ai, có mời cánh Mai Thảo & Du Tử Lê và cánh Phạm Duy lên San Jose. Thì cả hai cánh, trừ Du Tử Lê, đều có mặt, luôn cả Khánh Trường các thứ. Cuộc tổ chức không thành, cả bọn kéo nhau đến nhà Như Hảo chơi. Tôi ngồi giữa Mai Thảo và Phạm Duy, nhưng không rõ chút gì chuyện hai người này rất ghét nhau. Mai Thảo biết tôi là dân miền Bắc nên hỏi thăm tôi về các văn nghệ sĩ miền Bắc, lại bảo rằng rất thân với Hữu Loan.Phạm Duy mới kêu tôi ra riêng mà nói: 'Cái thằng Mai Thảo thì biết chó gì. Chỉ có tôi mới là thân với anh em ngoài ấy.' Xong, Phạm Duy tiếp: 'Này, tôi bảo cho chú nghe, một người nếu không có tài thì đừng nên làm nghệ sĩ để mà phải đi xin. Như tôi đây, cả đời tôi sống bằng tiền tôi làm ra. Cho đến bây giờ tôi vẫn sống bằng nhạc của tôi chứ không đi xin của ai để mà sống hết. Bây giờ về Việt Nam bảo Văn Cao, Hoàng Cầm lên sân khấu hát xem có ai thèm đi nghe không? Nhưng tôi về hát, vẫn có nhiều người đến dự.
Như vậy chứng tỏ tôi được nhân dân yêu vì tôi có tài.' Khi ấy tôi đâu hiểu câu nói của Phạm Duy là muốn ám chỉ Mai Thảo, lại cứ tưởng ông ấy mắng mỏ mình. Ừ thì thôi mình là đàn em, các ông ấy đàn anh, có mắng cũng được đi. Nào dè sau mới hiểu. Khi Như Hảo kể cho Mai Thảo nghe chuyện đài Mẹ Việt Nam của chị phải bị dẹp tiệm vì sở hụi chi ra quá nặng, Mai Thảo nói câu nghe rất cảm động: 'Ở đời này không có tiền thì không làm gì được.' Lúc Mai Thảo đã ra về, anh em còn ngồi lại với nhau.Nguyễn Bá Trạc mới bảo Phạm Duy: 'Nãy giờ anh tra tấn anh em nhiều rồi (ông ấy bắt anh em xem cuốn hồi ký của ông ấy đến hai tiếng đồng hồ) thì bây giờ anh em bề hội đồng lại anh. Tôi đề nghị mỗi người có quyền hỏi anh vài câu, anh đồng ý chứ?' Phạm Duy đồng ý. Nguyễn Bá Trạc xin hỏi trước hai câu.
Câu 1/: 'Anh luôn luôn hô hào dân chủ. Mấy chục năm nay anh bắt anh em yêu anh nhiều quá, giờ vẫn muốn anh em yêu anh. Vậy thì anh là độc tài hay dân chủ?' Phạm Duy trả lời câu rất hay: 'Bây giờ các anh bảo Đỗ Mười yêu tôi xem nó có yêu không?' Câu hai của Trạc: 'Lúc nãy, trước khi Mai Thảo ra về, tôi có nghe ông ấy nói: Phạm Duy già như thế còn làm được cái chuyện ấy thì nó không phải người, mà chính là quỷ!
Anh nghĩ sao về câu nói đó?' Phạm Duy đáp: 'Có những điều tôi làm được mà Mai Thảo không làm được. Một trong những điều là chuyện cái ấy ấy.' Khánh Trường đang ngồi cạnh Lê Thị Thấm Vân, la to: 'Anh Phạm Duy bảo làm cái ấy ấy là cái gì vậy?' Phạm Duy đáp tỉnh bơ: 'Muốn biết thì về hỏi bà xã tôi, bả trả lời cho mà nghe!' Sau đó, tôi viết bài ký sự về buổi này. Như Hảo đọc, tâu bẩm sao với Phạm Duy, ổng bèn bắt tôi fax xuống miền Nam Cali cho ông ấy đọc ngay.
Đọc xong, ổng fax ngược lên cho tôi một bài dài 9 trang, trong ấy cắt đi gần trọn các đoạn nói về Mai Thảo. Nghĩa là Phạm Duy không muốn cho tên Mai Thảo đứng cạnh tên ông ấy. Tôi vẫn đăng, cứ để tên Mai Thảo có mặt trong buổi đó, chỉ bỏ những đoạn Mai Thảo nói mà Phạm Duy buộc phải cắt đi. Bài tung ra, Phạm Duy giận lắm, gọi xuống tôi đe dọa: 'Tao bảo cho mày biết, không phải chỉ mỗi mày mới là người cầm cây viết.
Mày mà xuống Santa Ana , tao sẽ cho tụi đàn em chúng nó đánh mày nát xương!'] Bấy giờ, tôi hiểu ra chữ “chống gậy” của Phạm Duy và cái cười to của ông Lê Hữu Mục qua điện thoại. Lại nghe ông tiếp:- “Tuy nhiên, một câu nữa của Phạm Duy làm bác phẫn nộ hơn cả: ‘Tôi không đồng ý với anh về chuyện anh viết Ngục Trung Nhật Ký chống Hồ Chí Minh. Nếu bây giờ tôi về Việt Nam mà Cộng Sản cho tôi mười ngàn đô la, bảo tôi ca tụng Hồ Chí Minh, tôi sẽ ca tụng hết mình.’” Ông Lê Hữu Mục thở ra: – “Hôm sau, anh Cao Tiêu mời bác và một số anh em gồm anh Nguyễn Sỹ Tế, anh Lê Văn Khoa (khoa trưởng trường Đại Học Sư Phạm Sàigòn), chú Lê Ngọc Linh (em của bác, Trung tá Chiến Tranh Chính Trị), đến dùng cơm ở quán Nguyễn Huệ.
Ông cũng điện thoại mời ông bác sĩ Trần Ngọc Ninh, ông này nói cố gắng tới nhưng cuối cùng không tới được. Đưa vấn đề ra trước anh em, ai cũng đều khó chịu. Phạm Duy là một khuôn mặt lớn của nền ca hát Việt Nam . Lập trường chính trị của ông phải rõ rệt, không thể lèng èng như thế. Anh em bàn với nhau là cần phải có người lên tiếng về những gì Phạm Duy đã tuyên bố. Nhưng cái khổ là ai cũng già, tánh hay cả nể, thành ra không biết sự việc sẽ đi đến đâu?” Tôi hỏi: – “Xin bác cho biết tại sao bác tin mà kể cháu nghe những điều như vậy? Bác không sợ cháu sẽ viết cả ra trên giấy trắng mực đen sao?”
Ông Lê Hữu Mục la to: – “Thật thì bác cũng đã có ý đó. Bác nói chuyện này với một ông bạn Tiến Sĩ Toán ở Montréal. Ông ấy bảo: ‘Chúng mình đều lớn tuổi, há miệng mắc quai. Cái tâm Bông Giấy sáng hơn nên cô ấy dám viết ra mọi sự thật. Mình thua Bông Giấy điểm đó.’” Và ông Lê Hữu Mục kể: – “Vài tháng trước, vợ chồng ông Hà Thượng Nhân qua Canada , có tìm đến thăm bác. Trong câu chuyện, bác hỏi: ‘Tôi thấy anh vẫn ưu ái Bông Giấy. Vậy, nơi Bông Giấy có gì đặc biệt để anh phải đối xử như thế?’
Ông Hà Thượng Nhân trả lời: ‘Bông Giấy là người làm được cái việc mà đám già như chúng mình chẳng ai dám làm cả. Đó là viết ra những sự thật dơ bẩn của giới văn nghệ Việt Nam . Bông Giấy hơn chúng mình điểm ấy.’”
II. Câu chuyện điện thoại với ông Lê Hữu Mục để lại trong tôi một ấn tượng khá nặng nề, kéo dài suốt nhiều tháng ngày kế tiếp. Đúng, Phạm Duy là một khuôn mặt nổi của nền ca hát Việt Nam từ thời Kháng Chiến chống Pháp trở lại đây. Nhưng có một điều đúng hơn mà ít người biết: “Kể riêng về mặt âm nhạc, Phạm Duy không thật sự lớn như quần chúng đã ưu ái suy tôn ông.”
Tôi là một được người sinh ra và lớn lên trong cái nôi âm nhạc truyền thống của gia đình. Tôi tốt nghiệp violon nhạc cổ điển Tây Phương trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn năm 1967, dưới quyền giám đốc của ông Nguyễn Phụng, trực thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa thời ông Mai Thọ Truyền. Từ đó đến nay, tôi vẫn tiếp tục học và nghiên cứu âm nhạc qua nhiều hình thức và với nhiều vị giáo sư khác nhau, từ Việt Nam đến Âu Châu. Trên lãnh vực âm nhạc, được giao tiếp với nhiều người tài giỏi, nhìn lại ông Phạm Duy, tôi không cho rằng ông xứng đáng với ba chữ “khuôn mặt lớn” của nền ca hát Việt Nam. Một nhạc sĩ sáng tác lớn phải hội đủ những điều kiện sau:
1/ Thông Suốt Ký Âm Pháp.
Trong nhạc Đông Phương, nói về Thúy Kiều, Nguyễn Du đã viết: “Cung, Thương làu bậc ngũ âm”, thì phía nhạc Tây Phương, Mozart, Beethoven, Schubert… khi viết các symphonie, concerto, opéra, và nhiều thể loại khác, đã chứng tỏ được sự siêu đẳng của mình trên phần ký âm pháp. Cá nhân Phạm Duy cho thấy không có được trình độ như vậy. Sáng tác của ông chỉ quanh đi quẩn lại là các ca khúc rất đơn giản, âm sắc bình thường, bài nào cũng giống nhau một cách đơn điệu nhàm chán.
Phần kỹ thuật chẳng đưa ra được tính phá cách cần thiết trong nghệ thuật sáng tạo. Nói cho đúng, ca khúc của ông thành công là do thinh điệu phong phú của tiếng Việt, hay do sự đẩy đưa ngân nga trong cách trình bày của ca sĩ. Nếu che đi hết phần lời trong các ca khúc, chỉ tấu lên phần mélodie bằng âm thanh một nhạc khí nào đó, người ta sẽ dễ dàng nhận ra sự nghèo nàn trong âm nhạc Phạm Duy.
2/ Điêu Luyện Nhạc Khí.
Trong khi Thúy Kiều của Nguyễn Du “Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương”, thì các soạn nhạc gia quốc tế, từ cổ sang kim, từ Beethoven, Chopin, Mozart, Schubert…. đến John Lennon, Nat King Cole, Ray Charles… đều là những tay instrumentiste chuyên nghiệp, mỗi người có thể sử dụng vững vàng từ một đến hai, ba thứ nhạc khí.
Riêng Phạm Duy, thử hỏi ông thông làu được nhạc khí nào, nếu không chỉ là các hợp âm guitare loại “son đố mì” ông có từ thời còn làm nghề hát dạo? Hơn nữa là vài ngón dương cầm võ vẽ học lóm được trong một lớp dự thính tại Conservatoire de Paris nhờ sự quen biết của ông anh Phạm Duy Khiêm gửi gấm, ông mới được có mặt? Dạo về sau ông cũng biết sử dụng chút ít keyboard, loại nhạc khí thời trang mà mọi phần hòa âm phối khí trên ấy (viết ra và ghi lại từ tài năng kẻ khác) đều đã được lắp ráp sẵn?
3/ Sáng Tác.
Sáng tác đây đề cập ở hàng giá trị thật sự và có tầm vóc lớn. Giống như lời ông Hàn Vĩ từng viết ca tụng và đăng trong tác phẩm Bầy Chim Bỏ Xứ của Phạm Duy: “Tác phẩm của anh Phạm Duy phần lớn mang thể loại ca khúc, dù là những tác phẩm có tầm vóc lớn như những thể loại trường ca và tổ khúc cũng đều mang tính chất của loại nhạc có lời ca…”, thì rõ ràng các sáng tác của Phạm Duy, dẫu dựa trên nhiều đề tài, từ tình yêu trai gái đến tình tự dân tộc, chỉ đều là những sáng tác phải cần đến lời ca mới tới được gần quần chúng. (Rất nhiều bài phổ từ thi ca của các thi sĩ).
Giá trị âm nhạc thật sự hoàn toàn thiếu, đừng nói gì đến những từ ngữ sáo rỗng như “vua nhạc” (lời Đào Mộng Nam ), “đại tác phẩm”, “đệ nhất nhạc sĩ trong làng nhạc Việt Nam ”, “một điểm ‘chúng ta’ (sic!) có thể khẳng định là không ai, cho tới hằng trăm năm sau có thể làm được những lời hát tuyệt vời như một Phạm Duy” (lời Nguyên Thi) v.v.. và v.v… được đa số các người mà “một note nhạc bẻ làm đôi cũng không biết” đã trơ trẽn gán cho ông ta.
Có lẽ chính ngay tác giả của những từ ngữ đó khi đặt bút thành bài ca tụng Phạm Duy, cũng chẳng biết mình đang viết cái gì nữa! Giống như các trường ca khác, trong trường ca Hàn Mặc Tử (khiến Phạm Duy rất đắc ý), sự hợp nhất của tư tưởng âm nhạc hoàn toàn hỏng khi mà phần hòa âm lại do Duy Cường, con trai ông soạn, dựa theo phần ca khúc của ông. Ngoài ra, phần basse trở thành què quặt. Chant de basse không có.
Riêng với Minh Họa Kiều, hòa âm cũng do Duy Cường soạn, chèo cổ không ra chèo cổ, ả đào không ra ả đào, tân nhạc chẳng ra tân nhạc, ngâm thơ chẳng ra ngâm thơ. Có thể gọi đó là một loạt âm thanh tạp-pí-lù, vô hồn, trộn lẫn giữa tiếng vang của các nhạc khí dân tộc với tiếng vang của âm nhạc điện tử. (Âm thanh vô hồn có nghĩa rằng âm thanh được cấu tạo bằng MÁY mà không là truyền đạt từ trái tim và đôi bàn tay người nhạc sĩ trình diễn).
Có nhiều đoạn chát tai vì tiếng rít của cái keyboard được vặn lên ở mức độ cao. Ngồi nghe suốt một cuốn băng cassette dài 60 phút, thấy phần hát (rút từ lời thơ của cụ Nguyễn Du) quá nặng so với phần đàn, Minh Họa Kiều chỉ gợi cho tôi cảm giác đơn điệu buồn nản, chẳng chút rung động và không thể tìm ra được điều gì mới lạ. Tóm lại, qua nhạc phẩm Phạm Duy, nhất là ở các trường ca, chủ đề Đông Phương không ăn khớp với phần hòa âm cóp nhặt của Tây Phương, làm nên một kiểu âm nhạc “ông nói gà bà nói vịt”, tạo cho người nghe cảm giác khó chịu và giả tạo.
Mozart khi viết một symphonie hay một opéra, đâu chỉ viết riêng phần violon hay soprano thôi, mà còn viết các phần khác bằng chính ngay tư tưởng và tài năng ông có. Do đó, bản sáng tác mới thống nhất được cái tuyệt diệu của nó, trở thành một khối âm thanh diễn tả sự thuần nhất tư tưởng và tình cảm của tác giả. 4/ Nhạc Lượng (valeur musicale)
Nói về tài đàn của Thúy Kiều, Nguyễn Du viết: “Khúc nhà tay lựa nên xoang
Một thiên Bạc Mệnh lại càng não nhân.” Sự rung động đánh ngay vào tâm hồn thính giả là điều rất cần thiết trong âm nhạc. Xưa, nghe Prélude N.5 cung Ré bémol Trưởng của Chopin, người ta đâu cần ông phải viết thành lời mới có thể cảm thấy buồn rười rượi theo từng note phát ra từ chiếc dương cầm, vang lên như tiếng mưa rơi ngoài hiên lạnh; hay cùng ông tưởng tượng tiếng mưa đang rớt xuống từng giọt trên nắp chiếc quan tài?
Nghe đoản khúc Le Cygne trong sáng tác Carnaval des animaux của Saint Saens, đâu cần có lời mới biết được sự giẫy chết đau đớn cuối cùng của con thiên nga trên chiếc hồ rộng? Nghe Ouverture Egmont của Beethoven, đâu cần lời mới hình dung ra được sự hùng tráng của một cuộc chiến ngoài trận địa? Đọc Nguyễn Du, thấy tài âm nhạc của Thúy Kiều đã lên đến hàng tột đỉnh:
“Khúc đâu Hán Sở chiến trường
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau
Khúc đâu Tư Mã phượng cầu
Nghe ra như oán như sầu phải chăng!
Kê Khang này khúc Quảng Lăng
Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân
Quá quan này khúc Chiêu Quân
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.”
Tài âm nhạc này đã làm cho Kim Trọng
“… phải ngơ ngẩn sầu
Khi tựa gối khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.”
Hay khi đàn cho vợ chồng Thúc Sinh nghe, thì:
“Bốn giây như khóc như than
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.”
Tài đàn đã đến độ:
“Một cung gió thảm mưa sầu
Bốn giây nhỏ máu năm đầu ngón tay
Ve ngâm vượn hót nào tày”
đến khiến Hồ Tôn Hiến phải “nhăn mày châu rơi!”
Thử hỏi, trong quá trình nhạc Phạm Duy, có bài nào gây được trong tâm hồn thính giả những rung động đích thực và dữ dội như các nhà soạn nhạc kia, và cả Thúy Kiều, đã tạo?
5/ Chủ Đề.
Nguyễn Du khi viết về tài âm nhạc của Thúy Kiều đã không chỉ đóng khung trong việc Thúy Kiều tài ba trên ngón đàn thôi, còn là tài ba trên cả sự sáng tác và chủ đề sáng tác.
Thiên Bạc Mệnh của Thúy Kiều, cũng như Symphonie Pathétique của Tchaikovski, Revolutionnaire của Chopin, Symphonie Inachevée của Schubert, Marriage de Figaro của Mozart, Symphonie số 5 của Beethoven. v.v đều dựa trên những chủ đề lớn của nhân loại (Thiên Nhiên, Định Mệnh, Con Người). Trong Symphonie số 9, dẫu chủ đề là Niềm Vui hay Tình Bạn, và có cả lời ca, nhưng lời ca này đã được Beethoven viết ra bằng một trong những thể loại cao của âm nhạc là choeur (đồng thanh).
Chủ đề trong âm nhạc Phạm Duy không nói lên được tính chất vĩ đại của nhân loại, mà chỉ quanh đi quẩn lại với cái tôi của những cặp tình nhân (Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời, Kiếp Nào Có Yêu Nhau, Nghìn Trùng Xa Cách…), cái tôi của chính ông (các bài Tục Ca). Riêng các bài dân ca, ông luôn luôn “lập lờ đánh lận con đen” khiến thính giả cứ ngỡ phần lời là do chính ông soạn chứ không phải rút từ ca dao. Ví dụ bài Cái Trống Cơm.
Thảng hoặc có bài phô bày một bối cảnh xã hội, như Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà thì ông cũng phải mượn từ bài thơ nổi tiếng của Hữu Loan mới hoàn thành được sự nổi tiếng cho phần nhạc. Hoặc tệ hơn, bài Kỷ Vật Cho Em vẽ ra phần nào hình ảnh tang thương của cuộc chiến Nam Bắc Việt Nam, ông đưa phần nhạc thê thiết vào với những lời thơ ủy mị tang tóc (mà ông cố ý “cầm nhầm”) của tác giả Linh Phương, tạo nên một ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho phía quân đội Việt Nam Cộng Hòa khi ấy đang ở vào giai đoạn chiến tranh sôi bỏng nhất. Riêng những ca khúc được giới sinh viên học sinh yêu thích như Em Hiền Như Ma Sơ, Thà Như Giọt Mưa, Năm Năm Tình Lận Đận, Phạm Duy phổ từ thi ca Nguyễn Tất Nhiên, lại là kết quả của một vụ kiện tác quyền đầu tiên mà ông ta phải đền cho thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên.
Vụ kiện này xảy ra vài tháng trước khi miền Nam Việt Nam bị mất vào tay Cộng Sản, và cho đến nay các nhà văn, nhà báo hải ngoại vì nể nhà nhạc sĩ “lớn họng” mà quên đi luôn tâm huyết của một thi sĩ “bé miệng” đã quá cố. Vào thời điểm ấy, Nguyễn Tất Nhiên yêu cầu Phạm Duy phải ghi tên mình vào trên những bản nhạc đã lấy từ thi ca Nhiên mà phổ, nhưng Phạm Duy vẫn lờ đi, lại còn cả tiếng mắng rằng “Không có tao thì ai biết đến mày!” Lúc đó Nguyễn Tất Nhiên còn rất trẻ nhưng gia đình ông uất ức vì thái độ xấc xược của Phạm Duy nên đâm đơn kiện ông ta. Kết quả, Phạm Duy phải đền cho Nguyễn Tất Nhiên một khoản tiền không nhỏ! (*)
Trên phương diện chủ đề, chưa kể các nhạc sĩ tiền chiến khác, so với Phạm Đình Chương hay Trịnh Công Sơn, Phạm Duy cũng đủ bị xếp vào hàng DƯỚI. Năm 1960, trong một buổi đại hội, giới sinh viên Văn Khoa Sàigòn từng tuyên bố: “Phạm Duy đã chết!” Báo chí phỏng vấn điều này, sinh viên trả lời: “Nhạc Phạm Duy bây giờ ủy mị quá; ông chỉ viết theo thị hiếu quần chúng mà chẳng nói lên được tư tưởng nào mới, không còn lành mạnh như những bản trong thời Kháng Chiến ông đã làm ra.”
Năm 64-65, Trịnh Công Sơn được bạn hữu tổ chức buổi ra mắt đầu tiên trước quần chúng tại khu đất trống sau lưng trường Văn Khoa Sàigòn cũ (nay là Thư Viện Quốc Gia). Trước mặt đám đông đến mấy nghìn người gồm đủ thành phần văn nghệ sĩ, trí thức, sinh viên, học sinh, Trịnh Công Sơn xuất hiện với cây đàn guitare trên tay, cất lên giọng hát mình trong hai mươi ca khúc nói về quê hương, ước mơ hòa bình. Những bản nhạc về sau được mệnh danh là “nhạc phản chiến”. Buổi hát rất thành công, để lại một ấn tượng tốt đẹp cho người trình bày lẫn người nghe. Trong phần giải lao, Phạm Duy xuất hiện trên bục gỗ, xin hát một bài góp vui.
Trong không khí đang trầm lắng sau những bài hát nói về bom đạn và những vết thương trên thân thể quê hương, Phạm Duy đã cùng khoảng vài chục đệ tử trong nhóm Du Ca của ông đồng hát bài Sức Mấy Mà Buồn, một bài nhạc mang đầy tính khôi hài và giễu cợt một cách thiếu đứng đắn.
Về sau, trên tạp chí Văn lúc ấy có tường thuật buổi trình diễn của Trịnh Công Sơn và cũng đã nghiêm khắc lên án trò đùa và phá phách không đúng chỗ của một người đã quá nổi tiếng lúc bấy giờ. Tôi cũng được nghe một câu chuyện từ giáo sư Lê Hữu Mục: “Phạm Duy một lần nói với ông Tiến sĩ Trần Văn Đoàn, giáo sư trường Đại Học Đài Loan: ‘Nếu tôi ở Nhật, người Nhật sẽ nuôi tôi suốt đời vì tài âm nhạc của tôi.’
Ông Trần Văn Đoàn hỏi lại: ‘Thế anh có biết chính phủ Nhật đã nhiều lần mời Trịnh Công Sơn sang Nhật và trả cho Sơn một giá rất hậu chăng? Anh bảo anh có tài, tại sao họ chẳng mời anh?’”
III. Trình bày 5 tiêu chuẩn tiêu biểu trên, tôi chỉ muốn đưa ra một chứng minh nhỏ rằng Phạm Duy chưa xứng gọi là khuôn mặt lớn NHẤT của nền âm nhạc Việt Nam như ông luôn luôn huênh hoang tự nhận và như lời ca tụng của nhiều người bạn ông. Ở đây, tôi không hoàn toàn chối bỏ khả năng âm nhạc của Phạm Duy, nhưng cái khả năng đó CHƯA THỂ GOÏI LÀ ĐỦ để tạo cho ông một chỗ đứng xứng đáng trong làng âm nhạc quốc tế.
Địa vị mà ông đạt được hiện nay trong riêng Miền Nam trước 1975 và cộng đồng người Việt hải ngoại, phải kể rằng phần lớn nảy sinh từ tính dễ dãi của quần chúng Việt Nam. Dân tộc Việt Nam vốn nổi tiếng hiếu hòa; dưới cái nhìn quốc tế, người Việt Nam thường được xem là biểu tượng của sự vui vẻ và rộng lượng. Sự rộng lượng này được chứng minh trên nhiều hình thức, cơ hội.
Điển hình, trong một cuốn vidéo tape bày bán công khai, quay buổi trình diễn tái ngộ của bà ca sĩ Thái Thanh với thính giả Việt Nam hải ngoại, tổ chức tại Santa Ana, Thái Thanh lên sân khấu hát bản Dòng Sông Xanh, một nhạc phẩm của J. Strauss, Phạm Duy phổ lời Việt.
Bản này vốn cung Ré Trưởng, có những note rất cao dành cho phần premier violon. Qua giọng Thái Thanh, nhạc sĩ phải chuyển xuống thành Si bémol Trưởng; giọng hát bà ở vào thời kỳ tàn tạ, không lên đúng cao độ, nên nghe rất “phô”. Thế nhưng khi dứt bản nhạc, gần như toàn thể khán giả đều bắt chước đám quan khách thân cận cò mồi của gia đình Phạm Duy, ngồi ở hàng ghế đầu, đứng bật cả lên để vỗ tay ca ngợi bà.
Điều này cho thấy tinh thần người Việt Nam , ngay cả những người đang ở nước ngoài, vẫn tỏ ra dễ dãi và rộng lượng trước nghệ thuật và nghệ sĩ. Song song với cái nghèo và sự chậm tiến truyền đời của dân tộc, những đức tính kể trên của quần chúng Việt Nam đã tạo được cho Phạm Duy một chỗ đứng rất cao từ biết bao chục năm qua. Cuộc sống cá nhân và gia đình ông cũng được ưu đãi từ đó. Nhưng thử hỏi, ông đã trả lại được những gì cho quần chúng? Tên tuổi ông nổi lên nhờ quần chúng thì ông lại bảo các bản nhạc quần chúng yêu thích xưa nay của ông chỉ là làm trong chuồng xí!
Quê hương rơi vào tay Cộng Sản, gần hai triệu người phải bỏ ra đi, sống lây lất khắp nơi trên thế giới, có những người rất cùng túng, trong khi ông và gia đình vẫn phè phỡn trong một cảnh sống sung túc ở miền Nam Cali, thì ông lại bảo: “Nếu Cộng Sản cho tôi mười ngàn đô la mà bảo tôi ca tụng Hồ Chí Minh, tôi sẽ ca tụng hết mình!” Đó là những cái tát phũ phàng của Phạm Duy vào mặt quần chúng miền Nam Việt Nam, những người đã đưa tên tuổi ông lên từ mấy chục năm qua. * * * Sĩ khí là điều rất cần thiết cho một nghệ sĩ, nhất là với một nghệ sĩ lớn.
Nhưng đáng tiếc thay, điều này không có trong ông Phạm Duy. Ông luôn luôn tự hào, và được bạn bè ông bốc thơm, rằng ông là một “đại nghệ sĩ”, nhưng ông sẵn sàng ngửa tay nhận 5,000 đô la một cách khúm núm, để rồi vào đêm 29/12/1996, cùng với một số ca nghệ sĩ “lớn” (?!) của thủ đô tị nạn Nam Cali làm cái hành động đứng giữa sân khấu Long Beach Convention Center, xưng tụng một mụ đàn bà điên khùng không ra gì như bà Thanh Hải bằng những danh từ vô cùng bóng bẩy.
Khoảng hơn một tuần sau, ông lại lên một đài phát thanh Việt ngữ ở Nam Cali, ca ngợi không tiếc lời những dòng “thi ca” trác tuyệt của bà này, điều dễ dàng làm đỏ mặt bất cứ ai còn có chút tự trọng trong mình. Và nghệ sĩ vốn thường mang cá chất cao ngạo. Nhưng với ông Phạm Duy, chữ cao ngạo này trở thành tự cao tự đại một cách hợm hĩnh, giả trá. Có lần tôi được giáo sư Lê Hữu Mục kể: “Trong một buổi trình diễn ở Đức, Phạm Duy tuyên bố giữa nhiều người: ‘Nhạc của tôi không thua gì các symphonie của Bee-thoven.’
Ông giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Đoàn bèn hỏi Phạm Duy: ‘Anh bảo nhạc của anh không thua gì các symphonie của Beetho- ven. Vậy xin hỏi, anh có phân biệt nổi thế nào là một symphonie và thế nào là một concerto không?’ Phạm Duy cứng họng không trả lời được.” Cũng theo lời ông Trần Văn Đoàn, lần khác, có mặt Đặng Thái Sơn, dương cầm thủ đoạt giải nhất Chopin ở Nga năm 1983, Phạm Duy hỏi Sơn: ‘Tại sao cháu chỉ đàn nhạc Chopin mà không đàn nhạc của bác (là Phạm Duy)?’ Đặng Thái Sơn ngoảnh mặt bỏ đi, không thèm trả lời.
Những điều trên, ông Trần Văn Đoàn kể lại cho giáo sư Lê Hữu Mục nghe nhân dịp gặp nhau mới đây giữa hai người tại Đại Học Hè Thụy Sĩ 1997. Ông Trần Văn Đoàn phê bình: “Phạm Duy hỗn! Đến ngay quê hương Beethoven mà lại dám bảo nhạc của mình không thua gì nhạc Beethoven!” Cách đây ba năm, trong một buổi trình diễn nhạc Phạm Duy tại Texas, đa số khán giả đã phẫn nộ khi nghe Phạm Duy tuyên bố giữa sân khấu: “Văn Cao sao bằng được tôi?” Hôm ấy có tin nhạc sĩ Văn Cao từ trần tại Hà Nội.
Hình ảnh nhà nghệ sĩ chân chính sống trong nghèo túng, không có đất đứng, bước đi xiêu vẹo giữa xã hội Cộng Sản qua những cuộn băng vidéo phổ biến tại hải ngoại đã khiến cho mọi người thật ngậm ngùi khi nhìn lại khuôn mặt trâng tráo bóng nhẫy đầy vẻ xôi thịt của Phạm Duy. Họ đứng lên ra về ngay. Tiếc thay, điều ấy hình như cũng chẳng dạy được cho Phạm Duy bài học nào!
IV. Nói về sự tự cao tự đại của Phạm Duy, không bút mực nào viết cho hết. Tuy nhiên, khi sự tự cao tự đại lên đến hàng tự nhận “Các ca khúc quần chúng yêu thích và tôn vinh xưa nay của tôi đều chỉ được viết ra trong chuồng xí!” thì quả thật tôi không còn ý kiến.
Ngày xưa Cao Bá Quát lừng lẫy về thi tài lẫn cả nỗi cao ngạo, nhưng thật sự, đối tượng cho nỗi cao ngạo của Cao Bá Quát chỉ hạn chế trong giới vua chúa cầm quyền chứ không là quần chúng. Chưa một bài thơ, một lời nào của Cao Bá Quát lưu lại trong sử sách cho thấy rằng ông có chút nhỏ lòng khinh miệt hay chống lại quần chúng. Phần Beethoven, khi nghe tin Napoléon tự phong mình là Hoàng đế, đã nổi giận giẫm nát bản Symphonie No. 3 lúc trước được đề tặng cho Napoléon.
Thế nhưng, trong suốt dòng nhạc vĩ đại của Beethoven, chẳng bất cứ sáng tác hay tư tưởng nào cho thấy có sự phản bội lại quần chúng đã yêu thích ông. Như đã nói, quần chúng Việt Nam vốn dễ dãi và rộng lượng. Người dân Việt Nam , dẫu ra tới hải ngoại rồi, vẫn còn lưu giữ trong tâm hồn cái truyền thống trọng Kẻ Sĩ của người xưa. Dưới mắt họ, Phạm Duy điển hình cho một Kẻ Sĩ. Chỉ một điều buồn là Phạm Duy không đạt được tới chút nhỏ giá trị cao quý của hai chữ Kẻ Sĩ. Ông không phải là một Kẻ Sĩ trên đủ mọi mặt. Ông không có được cái Dũng, cái Chân, cái Nhân và cái Thiện rất cần thiết cho một nghệ sĩ chân chính.
Ông chỉ biết tôn thờ cái Tôi của chính ông. Ông khai thác tối đa cái Tôi ấy trên nhiều hình thức. Đó là quyền của ông. Nhưng ông không có quyền phản bội lại quần chúng đã ưu ái ông, đem miếng ăn, đem cả hào quang cho ông để mà tự hãnh. Ông không có quyền chà đạp lên sự đau khổ của nhân dân miền Nam bằng một câu nói rất là ít hiểu biết và vô trách nhiệm so với tên tuổi ông: “Nếu Cộng Sản cho tôi mười ngàn đô la mà bảo tôi ca tụng Hồ Chí Minh, tôi sẽ ca tụng hết mình.”
Ngoài tính dễ dãi và rộng lượng của quần chúng Việt Nam trong cái nhìn về nghệ thuật, phải nhấn mạnh thêm về sự THIẾU HIỂU BIẾT của những người chung quanh gần cận Phạm Duy; do đó, danh vọng ông mới có và đứng vững được suốt mấy chục năm qua. Mới đây, tôi được đọc một bài báo đăng trên tờ nguyệt san Việt Nam, xuất bản tại Canada, số 11 tháng 8/1997, có đoạn như sau: “Minh Họa Kiều thật sự là một symphonie Việt Nam có khả năng tạo thêm sinh lực đưa Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du đi xa hơn vào tương lai trong thế giới văn minh kỹ thuật hiện đại…”
(Trích bài Phạm Duy Trung Tâm Sinh Hoạt Văn Hóa và Lời Cảm Ơn)
Đọc câu trên, những ai có lòng tự trọng không khỏi khó chịu và nổi giận thầm. Nguyễn Du là người duy nhất đã dám đi ngược lại và đương đầu với phong trào tư tưởng Nho giáo suy đồi thời đó để xây dựng một nền tư tưởng có tính Việt Nam ; người đã một mình canh tân thể thơ lục bát, làm mới tiếng Việt. Bây giờ những gì ông đưa ra cách đây hơn 200 năm vẫn hợp thời, và ông được cả thế giới công nhận là đại thi hào.
Tác phẩm Truyện Kiều của ông, năm 1967, đã được UNESCO xếp vào hàng một trong 7 tác phẩm lớn của thế giới. Còn Phạm Duy? Thử hỏi ông đã làm gì để rạng rỡ cho dân tộc Việt Nam trước cái nhìn quốc tế? Những ca khúc hay trường khúc được ông tự nhận và bạn bè ông ca tụng là sự “xây dựng một nền âm nhạc mới cho Việt Nam ”, điều đó có đúng chăng? Có nên kể rằng những bản nhạc lai căng nửa Tây nửa Việt, cóp nhặt chỗ này một ít ngũ cung, chỗ kia một ít hợp âm Âu Mỹ, là độc đáo, mang bản sắc dân tộc, hoặc là một nghệ thuật mới?
Tôi khẳng định KHÔNG! Vì vậy, đọc những lời ca tụng đại loại như trên, tôi thật rất buồn cho chữ nghĩa Việt Nam và cái “sĩ khí” của những người còn biết cầm cây viết để viết lên những dòng chữ bằng tiếng Việt Nam! Ở dây, khoan kể đến câu “Hiểu thế nào là một sym- phonie?” như ông Trần Văn Đoàn đã hỏi Phạm Duy một lần ở Đức, nội cái việc đưa tên tuổi Phạm Duy đứng cạnh tên tuổi cụ Nguyễn Du cũng đã là một việc nhục nhã và chẳng nên làm chút nào đối với những ai còn chút liêm sỉ trong người.
V. Chuyện ông Phạm Duy là một loại truyện dài Nhân Dân Tự Vệ. Tôi là một người Việt Nam 100% nên cũng có tinh thần dễ dãi truyền đời trong máu huyết. Từ lâu tôi chán không muốn nghĩ đến, và cũng cả chán không muốn nghe các bản nhạc từ 1960 trở đi của ông.

Nhưng đến một lúc nào, tôi ngạc nhiên tự hỏi, một người đã quá già như thế (ông tự nhận là bạn cùng thời phiêu bạt với ông thân tôi, đã chết cách đây 40 năm) sao tư cách lại còn có thể làm cho đám hậu sinh như tôi phải đặt vấn đề như thế? Thật sự, tôi không phủ nhận sự đóng góp của ông Phạm Duy đối với dân tộc trên lãnh vực âm nhạc.
Việt Nam là một quốc gia nghèo nàn, chậm tiến. Tất cả các đóng góp của mọi người dân đều cần thiết. Thì với Phạm Duy, tuy rằng khả năng ông (tôi dùng chữ “khả năng” mà không là “tài năng”) chỉ thu hẹp trong một giới hạn nào đó, cũng là điều đáng hoan nghênh. Nhưng nếu ông chịu nhận biết mình đang ở mức độ nào trong sự đóng góp và vị trí nào trong thế giới âm nhạc phong phú, là điều đáng quý; quần chúng và cả tôi nữa, sẵn sàng hết lòng ủng hộ ông.
[Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, có những ngôi sao xuất hiện không lâu trên bầu trời ca khúc, nhưng không ai chối bỏ rằng các ngôi sao ấy đã sáng và sẽ còn sáng mãi -như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Dzoãn Mẫn, Nguyễn Văn Thương, Phan Huỳnh Điểu, Đoàn Chuẩn, Từ Linh..v.v..] Nhưng bởi vì Phạm Duy tự đem mình so sánh với Beethoven, và có những người đặt ông cao bằng Nguyễn Du thì ông phải có bổn phận chứng minh cho quần chúng thấy được cái “vĩ đại” của ông một cách cụ thể. Bài viết này không đi ra ngoài mục đích đó.
VI. Nhìn lại dòng thời gian từ 1954 trở đi, Việt Nam có cái gì mới đáng để hãnh diện với thế giới? Và từ 1975 trở lại đây, vô số người Việt Nam đã đặt chân được tới bến bờ tự do, tiếp xúc biết bao trào lưu văn học nghệ thuật mới của thế giới, nhưng nói riêng về ngành âm nhạc và nói chung về các ngành nghệ thuật, miền Nam Việt Nam có được sự tiến bộ nào chăng? Xin trả lời KHÔNG!
Trong một buổi họp mặt âm nhạc do giáo sư Tạ Văn Toàn tổ chức năm 1985 tại Montréal, có cả sự hiện diện của giáo sư Lê Hữu Mục, một vị khách ngoại quốc đã đưa ra câu hỏi: “Tại sao trong nhạc Việt Nam chẳng thấy có sáng tác nào lớn ngoài những ca khúc không quá hai trang giấy nhỏ?” Giáo sư Tạ Văn Toàn trả lời: “Việt Nam chỉ có các ca khúc chứ đâu đã thực sự có âm nhạc.
Vì vậy nhạc phẩm lớn làm sao xuất hiện được?” Lỗi này do ai? Tôi cho rằng phần lớn là do những người có cơ sở, có thế lực, địa vị trong các lãnh vực này. Quần chúng Việt Nam hải ngoại ưu đãi, tôn vinh họ, dành cho họ những chỗ đứng xứng đáng, nhưng đáp lại, họ chẳng làm gì để trả lại cho quần chúng ngoài sự vinh thân phì gia của chính họ và những cái tát phũ phàng nào đó trong sự bắt tay NGẦM hay CÔNG KHAI với phía ngoại bang hay với Cộng Sản.
Thực sự, tôi không tin ông Phạm Duy là một người thân Cộng, nhưng ông cũng không phải là người chủ trương chống Cộng. Ông từng tự nhận mình chỉ là người “chống gậy!” mà không chống Cộng! Theo như ông Lê Hữu Mục nhận định, đường lối chính trị của Phạm Duy rất lèng èng, không rõ rệt. [Trong tổ khúc Bầy Chim Bỏ Xứ, Phạm Duy phân biệt hai loại chim hiền và chim ác, ví như hai phía quần chúng quốc nội (trong có các người Cộng Sản thứ thiệt) với quần chúng hải ngoại. Chim ác ở lại. Chim hiền bỏ tổ bay đi.
Nhưng đến một hồi, ông Phạm Duy lại kêu gọi hai bầy chim vầy họp lại với nhau!] Cá nhân tôi nghĩ, do bởi trình độ tư tưởng chính trị thấp kém và bởi không có kiến thức về các danh từ chính trị và ngoại giao mà Phạm Duy đã vô tình bị Cộng Sản lợi dụng bằng chính những danh từ. Ví dụ, đối với người Quốc Gia, Hòa Bình có nghĩa là chấm dứt chiến tranh.
Nhưng đối với Cộng Sản, Hòa Bình phải là chấm dứt tư bản, làm tư bản tan rã. Cộng Sản đề ra chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa yêu nước, nhưng thật sự đó chỉ là những cái mặt nạ che giấu mưu đồ tồi tệ, làm lợi cho lực lượng cầm quyền Cộng Sản và mở rộng quan điểm xã hội chủ nghĩa của họ. Còn trên thực tế Việt Nam từ xưa đến nay chỉ có lý tưởng dân tộc chứ làm gì có chủ nghĩa dân tộc? Tính dân tộc thuần túy trong lòng người Việt Nam và chủ nghĩa dân tộc do Cộng Sản đề ra, khác nhau xa.
Một người mang tính dân tộc thì lúc nào cũng nghĩ đến dân tộc, điển hình qua các hình ảnh thân thiết của quê hương. Nhưng chủ nghĩa dân tộc lại được giải thích theo Duy Vật sử quan, và các khái niệm về dân tộc đã bị bóp méo hoàn toàn. Cộng Sản thường đưa ra những hình ảnh dễ đi vào lòng người, dựa trên Truyện Kiều, trên ngũ cung, trên dân gian. Cộng Sản hay nói đến hình ảnh người nông dân, nhưng trên thực tế có bao giờ thấy họ đề cao dân quê?
Đối với họ chỉ có công nhân là quan trọng, còn dân quê bị liệt vào hàng có tội với nhân dân vì đã sản xuất lúa gạo cung ứng cho giặc, cho tư bản. Muốn được nhìn nhận, người nông dân phải vào hợp tác xã do nhà cầm quyền làm chủ. Cũng vậy, lòng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước khác nhau. Một người mang lòng yêu nước thì lúc nào cũng mong làm sao cho đất nước tiến lên trên đủ mọi mặt.
Nhưng trong chủ nghĩa yêu nước mà Cộng Sản đề ra là đã có sự giết người, khát máu. Dân tộc Việt Nam vốn tính hiếu hòa, nhưng khi có ngoại xâm thì cũng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương. Tuy nhiên, qua lối phân tích của Cộng Sản, người Việt Nam bao giờ cũng hiếu chiến (chống Tàu, chống Pháp, chống Mỹ, thậm chí chống luôn tất cả những ai cùng màu da huyết thống, nếu không là Cộng Sản thì phải là Ngụy!).
Kiểu nói của Cộng Sản là kiểu nói khích động quần chúng, khai thác triệt để lòng hiếu chiến của quần chúng. Phong trào quần chúng cũng bị Cộng Sản giải thích sai. Trong quần chúng, có những nhóm ô hợp nhưng cũng có những nhóm nổi lên vì chính nghĩa. Tất cả những việc lao động của dân đều mang tính chất góp phần vào lực lượng sản xuất chung; thì tinh thần này lại bị Cộng Sản cho là phục vụ kẻ bóc lột.
Phạm Duy không hiểu những điều như vậy, không am tường ý nghĩa các danh từ mà Cộng Sản đã đề ra. Ông cứ ngỡ Cộng Sản nghĩ về Dân Tộc hay Lòng Yêu Nước cũng giống như những người Việt thuần túy đã nghĩ. Ông không biết rằng Cộng Sản chỉ muốn đánh lừa người dân Miền Nam, nhất là người Việt hải ngoại, bằng các hình ảnh rất dân tộc, mà thật thì chỉ là muốn tiêu diệt người Quốc Gia. Vì vậy, ông bị lầm và bị lợi dụng một cách vô tình hay hữu ý. Ông đưa ra trong âm nhạc của ông những hình ảnh như Truyện Kiều, Mẹ Việt Nam, người dân quê…
Ông kêu gọi mọi người ngồi lại với nhau (Việt Nam Việt Nam ! Bầy Chim Bỏ Xứ) [Cũng có thể ông Phạm Duy tự cho mình là thiên tài, nên có quyền vượt lên trên tất cả mọi chính kiến. Nhưng ông quên một điều, dẫu cho có là thiên tài thật chăng nữa thì ông vẫn là một con người có xứ sở, quốc gia, chứ không thể giống như con khỉ Tôn Ngộ Không, từ đất từ núi mà nảy sinh trong cuộc đời!] VII. Ở đây, tôi đồng ý rằng đến một lúc nào trên cái nhìn chung về dân tộc, vấn đề hợp lưu cần được nêu lên.
Nhưng hợp lưu có nghĩa là NGỒI LẠI VỚI NHAU MỘT CÁCH NGANG HÀNG, chứ không là van xin quỵ lụy một chiều. Phạm Duy đã viết ra những lời nhạc không bằng lòng yêu nước hay bằng tinh thần người Việt Quốc Gia chân chính, mà là bằng lối suy nghĩ của Cộng Sản hay của một thế lực ngoại bang. Quần chúng bị ông lôi cuốn vào sự suy nghĩ sai lầm riêng nên cũng suy nghĩ theo lối suy nghĩ của Cộng Sản hay ngoại bang hồi nào không biết.
Thực hơn hết, theo tôi, Phạm Duy chỉ là người “chống chống Cộng” đúng đường lối của Mỹ. Trước kia, Mỹ là quốc gia chống Cộng hàng đầu thế giới, nhưng bây giờ, chính sách ngoại giao của Mỹ đã thay đổi. Những người Việt Nam làm việc và ăn lương của Mỹ cũng phải thay đổi luôn. Có nên nghi ngờ Phạm Duy cũng là một trong những người của số Việt Nam này chăng? Mới đây, tôi được nghe giáo sư Lê Hữu Mục kể rằng: “Phạm Duy có nhắn lời với một người bạn bên Tây của bác và cũng với chú Lê Ngọc Linh em trai bác rằng sẽ kiện bác ra tòa và sẽ bảo đàn em tìm bác mà đập cho một trận.”
Đây cũng là một điều làm tôi phải suy nghĩ. Tự hỏi, Phạm Duy, một nhạc sĩ nổi tiếng và đã lớn tuổi, sao lại tỏ ra côn đồ thô bạo như thế, hết đe đánh Văn Thanh vì một bài viết, tới đòi đập giáo sư Lê Hữu Mục vì những lời tố cáo. Tư cách văn nhân nghệ sĩ của ông ở đâu? Quần chúng liệu có nhìn ra điều ấy?
Hay là ông dựa vào một thế lực nào ghê gớm mới có thể phô bày sự hống hách ngay chính trên một đất nước rất tôn trọng nhân quyền và luật pháp như xứ Hoa Kỳ? Đọc lịch sử Việt Nam, thời thực dân, thấy có ba nhân vật ra hợp tác với Tây là Tôn Thọ Tường, Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Trường Tộ. Mỗi người đều có thái độ và ý nghĩ khác nhau trong hành động của mình. Nguyễn Trường Tộ chỉ trong mấy tháng ra làm việc mà về sau cứ hối hận mãi theo điều ấy. Ông chuộc lỗi với dân tộc bằng cách cố lòng tranh đấu cho Việt Nam, viết 150 bản điều trần dâng lên vua Tự Đức với ước nguyện mong thay đổi khá hơn cho đất nước.
Trương Vĩnh Ký hợp tác với Tây hoàn toàn trên phương diện văn hóa, cũng mang lòng hối hận khôn nguôi. Riêng Tôn Thọ Tường chẳng những đã vênh váo vì cơm no áo ấm trong khi đồng bào rất đói khổ, lại còn hết lòng hết dạ ca tụng sức mạnh văn minh của bọn thực dân. Tôi tự hỏi, không biết ông Phạm Duy thuộc hàng nào trong số ba con người lịch sử hợp tác với ngoại bang, ở trên tôi vừa kể?
Trần Thị Bông Giấy

Adieu Phạm Duy!

Tác giả: Nguyễn Văn Chức Suốt Một Đời Không Thèm Khát
Suốt Một Đời Không Vô Liêm Sỉ
Suốt Một Đời Không Vô Lễ Giáo
Và Suốt Suốt Một Đời Không Hèn
Phạm Duy
Tôi viết về Phạm Duy lần đầu tiên năm 1987, tức là cách đây gần hai mươi năm. Tháng 8 năm đó, một nhóm người đòi bỏ bài Quốc Ca Việt Nam “Này Công Dân Ơi”, để thay vào đó bài “Việt Nam Việt Nam” của Phạm Duy. Nhóm người gồm các ông Thái Chính Châu, Nông Anh Ngọc, Vũ Trung Hiền, Bùi Duy Tâm, Phan Quang Đán,v,v…
Cuộc họp “lịch sử” diễn ra tại nhà BS Bùi Duy Tâm ở Cali . Đêm đó, họ đồng ca bài quốc ca Này Công Dân Ơi lần cuối, để vĩnh biệt ngày xưa … Rồi họ đồng ca bài quốc ca mới, tức bài Việt Nam Việt Nam để ăn mừng kỷ nguyên mới. Duyên Anh lúc đó đang say khướt trên lầu, thì được dưới nhà gọi lên:
- “Duyên Anh ơi xuống đây chứng kiến giờ lịch sử.”.
Duyên Anh ngất ngư lò mò từ trên gác xuống, hát cà lăm:
- “Cái nhà là nhà của ta, ông cố ông cha lập ra. Moa đíu chơi với các cậu. Moa đi ngủ tiếp đây”.
Hai hôm sau, Duyên Anh gọi cho tôi, kể cho tôi nghe, rồi cà lăm:
- “Ông ơi, ông đánh bỏ mẹ chúng nó đi.Chỉ có ông mới đánh được chúng nó thôi”.
Và tôi đã lên tiếng để “đánh chúng nó”… Bài lên tiếng của tôi gồm 5 điểm. Riêng điểm 5 dành cho Phạm Duy, như sau:
“Bài Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy đã được nhóm người đưa ra cùng một lúc với vấn đề thay đổi quốc ca. Riêng Phạm Duy cũng đã có lần chỉ trích nhạc của bài Quốc Ca. Trong vụ đòi thay đổi quốc ca, ông im lặng. Dư luận không khỏi nghĩ rằng ông là một trong những kẻ đứng đàng sau.
Phạm Duy là một tài hoa. Điều đó không ai chối cãi. Cũng không ai chối cãi việc Phạm Duy bỏ bưng về tề cuối thập niên 1940 là một điều hay cho Người Quốc Gia. CSVN đã mất một thiên tài, người Quốc Gia có thêm một tài hoa, kho tàng nghệ thuật của người Quốc Gia có thêm những bài ca giá trị. Tôi vẫn nghĩ: Người Quốc Gia nên biết ơn Phạm Duy. Ngược lại, Phạm Duy cũng phải biết ơn Người Quốc Gia; ơn này mênh mang như biển cả. Bởi vì nhờ môi sinh nhân bản của vùng quốc gia, Phạm Duy mới có điều kiện phát huy tài năng. Văn Cao, tài nghệ đáng bậc đàn anh, nhưng vì phải sống dưới chế độ súc vật cờ đỏ sao vàng, nên đành phải để tài hoa chết yểu, chưa kể phải sống như con vật, thèm từ củ khoai cọng sắn. Đó cũng là trường hợp của nhiều văn nghệ sĩ dưới chế độ cộng sản. Phạm Duy có phước hơn. Một phần tư sống trong vùng đất quốc gia, Phạm Duy đã tạo được sự nghiệp và tên tuổi trong lãnh vực sáng tác ca nhạc. Người Quốc Gia hãnh diện vì có ông và đã đối xử với ông thật tận tình. Ra đến hải ngoại, người Quốc Gia cũng vẫn một tấm lòng đó đối với ông. Nhạc của ông vẫn được tập thể tỵ nạn nâng niu, con người của ông vẫn được đồng bào quý mến. Các con của ông đã có chỗ dung thân, phần lớn là do tấm lòng của đồng bào đối với chính ông. Cho nên, nếu quả thật Phạm Duy đã tiếp tay cho việc đánh phá bài Quốc Ca VN (Tiếng Gọi Công Dân) để thay vào đó bài Việt Nam Việt Nam của ông, thì thật đáng buồn.
Riêng về bài Việt Nam Việt Nam , không ai phủ nhận giá trị nghệ thuật của nó. Nhưng đó cũng là giá trị độc nhất của nó. Nó chỉ có giá trị nghệ thuật, không có giá trị lịch sử. Nó không mang tinh huyết của cuộc chiến đấu ròng rã và đầy cam go của dân tộc VN chống lại bè lũ CS Hồ Chí Minh tay sai CS quốc tế. Nó không có được một giờ trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt Nam . Đang khi đó, bài Quốc Ca “Này Công Dân Ơi” đã có ít nhất 40 năm trong dòng sinh mệnh ấy.”.
***
Năm 1992, Phạm Duy cùng với Bùi Duy Tâm xuống Houston ra mắt đĩa nhạc thời trang. Buổi họp mặt hôm đó khá đông. Đây là lần đầu tiên tôi có dịp diện kiến người nghệ sĩ tài hoa. Gia chủ đọc tiểu sử Phạm Duy, rồi giơ tay về phía buồng trong, giới thiệu:
- “Đây Phạm Duy”.
Phạm Duy từ trong buồng bước ra, giơ hai tay chào, lớn tiếng tự giới thiệu:
- “Đây, Alain Đầy Lông”.
Cả phòng họp họp vỗ tay.
Sau buổi trình diễn của Phạm Duy, là những giây phút hàn huyên. Tôi được hân hạnh ngồi gần ông. Tôi hỏi:
- “Nghe nói bác đang làm đơn xin về Việt Nam ?”.
Phạm Duy trả lời (nguyên văn):
- “Về làm gì. Những thằng như Hoàng Cầm, sẽ ngửa tay xin tiền. Mình cho nó một trăm đô, nó chê ít. Mà đâu chỉ có một thằng Hoàng Cầm, còn bao nhiêu thằng khác, như một lũ ăn mày. Chúng nó tưởng mình bên Mỹ hốt bạc. Về làm đéo gì. Còn chơi gái á, bên này thiếu gì.”.
Tối hôm đó, chúng tôi đi ăn nhà hàng. Tôi lại được hân hạnh ngồi gần Phạm Duy, hân hạnh mà tôi không nỡ từ chối. Con người thật của Phạm Duy hiện lên trần truồng.
***
Năm 1993, tờ Far Eastern Economic đăng tin Phạm Duy làm đơn xin Việt Cộng cho về Hànội để sống những ngày cuối đời, nhưng đơn xin đã bị bác. Phạm Duy đã lên tiếng cải chính.
Hai năm sau, năm 1995, một tờ báo Việt ngữ (tờ Ép Phê) tại Paris loan tin cuộc gặp gỡ thân mật tại tòa đại sứ VC tại Paris ngày 7 tháng 1/1995 để thảo luận về đề tài:
- “Chúng ta cùng hồi hương giúp nước.”.
Tờ báo đăng tấm ảnh chụp Phạm Duy đứng giữa, một bên là tên đại sứ VC Trịnh Ngọc Thái, và một bên là Trần Văn Khê. Tờ báo cũng đăng những lời bợ đỡ Việt Cộng của Phạm Duy…
Phạm Duy đã lên tiếng cải chính.
***
Năm 1997, trong một buổi họp mặt tại Cali, có thi sĩ Cao Tiêu, cựu khoa trưởng đại học Văn Khoa Sàigòn Nguyễn Khắc Hoạch, học giả Nguyễn Sĩ Tế, bác sĩ Trần Ngọc Ninh, giáo sư Lê Hữu Mục v,v… Phạm Duy đã tuyên bố bốn câu bất hủ, đựợc báo chí đăng tải. Câu một: “Tôi có chống cộng bao giờ đâu, tôi chỉ chống gậy”.
Câu hai: “Ai ngu thì mới thích nhạc của tôi. Nhạc của tôi làm trong cầu tiêu mà”.
Câu ba: “Tôi phải về Việt Nam . Tôi cần có 8 Ái Vân để hát những bản nhạc mới của tôi. Ở đây chỉ có một Ái Vân, quả là không đủ.”.
Câu bốn: “Tôi không đồng ý chống Hồ Chí Minh. Về Việt Nam , chỉ cần nhà nước trả cho tôi 10 ngàn đô la, tôi sẵn sàng ca tụng Hồ Chí Minh”.
Phạm Duy đã lên tiếng cải chính, chối không nói những câu vô liêm sỉ đó. Trong dịp sống chung với GS Mục tại nhà anh Nguyễn Trọng (cựu phóng viên của hãng Reurer) ở Oklahoma , tôi có hỏi GS Mục về vụ Phạm Duy. GS Mục quả quyết Phạm Duy có nói những lời vô liêm sỉ.
Tôi tin giáo sư Mục.
Thứ nhất: những câu nói của Phạm Duy thuộc ngôn ngữ và khẩu khí đặc biệt mà chỉ Phạm Duy – một kẻ suốt đời không vô liêm sỉ, không vô lễ giáo và không thèm khát – mới có.
Thứ hai: giáo sư Mục đã kê khai tất cả những nhân chứng có mặt hôm đó, giáo sư Mục không thể nào bịa đặt tên tuổi của những nhân chứng.
***
“Ta Tiếc Cho Một Phạm Duy…”.
Đó là nhan đề một bài tôi viết năm 2002 để phê bình bài hát “ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo” của Phạm Duy. Nhan đề của tôi bỏ lửng “ta tiếc cho một Phạm Duy” nhưng nhiều người đã tìm ra hai chữ “cùi hủi” cùng âm điệu với hai chữ thạch thảo.
Tôi viết bài đó, để thương hại cho một Phạm Duy cùi hủi.
Có ba cái đáng thương hại.
Cái đáng thương hại thứ nhất:
- Phạm Duy phổ nhạc bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm, viết Hoàng Cầm Ca, để ca tụng Hoàng Cầm, một tên văn nô cùi hủi Việt Cộng. Chẳng những ca tụng Hoàng Cầm, Phạm Duy còn khen vợ cũ của Hoàng Cầm (Tuyết Khanh), và khen con gái của Hoàng Cầm (Kiều Loan).
Trong bài “Một Cảm Nhận Chệnh Choạng, Một Hiểu Biết Chệch Choạc”, Hoàng Cầm từ trong nước đã lên tiếng chửi Phạm Duy thậm tệ. Mà chửi đúng.
Cái đáng thương hại thứ hai:
- Phạm Duy lấy thơ của Apollinaire (bài Adieu), để làm lời ca cho bài “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo”. Nhưng Phạm Duy đã hiểu sai thơ Apollinaire. Phạm Duy không đủ trình độ để hiểu thơ Apollinaire.
Cái đáng thương hại thứ ba:
- Sau quá nhiều tai tiếng, nhất là sau vụ “bốn câu bất hủ”, Phạm Duy đã phải nhờ một văn phòng luật sư tại Canada lên tiếng minh oan cho cái vô liêm sỉ của mình. Văn thư minh oan ấy đề ngày 28/9/1998 .
Chúng ta hãy nghe:
- “Phạm Duy quan niệm và hành động như một người nghệ sĩ phóng khoáng trong lòng dân tộc và đứng trên mọi thể chế chính trị đối nghịch nhau”.
Và chúng ta hãy nghe:
- “Nhạc sĩ Phạm Duy (cho biết) chỉ về Việt Nam khi đất nước có dân chủ và nhân quyền được tôn trọng”.
***
Mùa thu năm 1978, tức là cách đây gần 30 năm, con thuyền tỵ nạn của gia đình nhạc sĩ Ngọc Chánh tới bến Mã Lai. Trên thuyền, có ba người con trai của Phạm Duy: Phạm Duy Minh 25 tuổi, Phạm Duy Hùng 23 tuổi, Phạm Duy Cường 21 tuổi.
Khi nghe tin các con đã cập bến Mã Lai và thoát nạn cộng sản, Phạm Duy đã sáng tác hai bài ca cho người tỵ nạn, và cho chính nghĩa tỵ nạn.
Tài liệu còn đó, Phạm Duy không thể chối cãi.
Bài ca thứ nhất:
Hát Cho Người Vượt Biển
“Này đoàn người đang vượt biển Đông
Kiếp mong manh như áng mây hồng
Người gửi mình trong vùng đại dương
Treo mạng sống giữa hai sợi tóc
Người chập chờn giữa trời biển rộng
Đã bao nhiêu thành đám thây khô?
Này đoàn người đi tìm tự do
Cứu được người thật là khó.
Này loài người dưới mặt trời soi
Hãy giương to đôi mắt của người
Người và người tất cả ngược xuôi
Đi tìm lẽ sống trong trời đất
Người nào còn tin ở Trời Phật
Với đôi tay thành kính đưa ra
Mời đoàn người đi tìm tự do
Đến chia vui với người
Ôi niềm vui, ôi niềm vui
Của loài người biết thương nhau
Lậy Trời Phật cúi đầu mà coi
Bé thơ ngủ trong bão tơi bời
Lậy Trời Phật xin nhìn ngoài khơi
Ông bà lão nghiến răng cầm lái
Và con lậy xin Ngài Thần Biển
Đoái thương đôi trẻ mới xe duyên
Lậy loài người, tôi lậy tổ tiên
Hãy cho tôi thấy đất liền…”.
Bài ca thứ hai:
Hát Cho Quyền Làm Người
Loài người sinh ra như nhau cùng chung có quyền
Đây trước tiên là quyền sống có tự do
Nhưng sao hàng triệu nhân dân
Đương nhiên bị đoạt mất hết
Quyền ăn nói, tín ngưỡng, hay đi lại?
Từ ngày sinh ra chuyên môn đi cướp quyền
Trên thế gian bọn người khát máu thèm xương
Đi gieo hận thù đau thương
Ra tay độc tài áp bức đời sống dân lành
Thương cho quê hương nơi xưa sống thanh bình
Giờ thành trại giam, nhân dân bị tước nhân quyền
Gia tài tổ tiên, chúng nhóm lửa đốt hết
Trẻ già được liệt vào hàng của súc vật
Trên quê hương ta, ôi tan nát gia đình
Chẳng còn tổ quốc, chúng nó là lũ vô tình
Điên cuồng tự kiêu, chúng nó còn chém giết
Và còn đọa đầy một dân nước nghiệt oan
Loài nguời mau mau cùng xúm lại
Tranh đấu cho quyền người sống có tự do
Ta đang ở ngoài kêu to
Bên trong nổi dậy chiến đấu
ĐỂ GIẾT HẾT CỘNG NÔ
ĐỂ SẼ CÓ NHÂN QUYỀN
***
Như mọi nguời đã biết: tháng 4 năm nay (2005), sau bao nhiêu lần chạy chọt hèn hạ bợ đỡ, Phạm Duy đã đạt sở nguyện. Ông đã được Việt Cộng chấp thuận cho về nước sinh sống, để tiếp tục làm kẻ suốt đời không thèm khát, không vô liêm sỉ, không vô lễ giáo, không hèn hạ.
Và “ĐỂ GIẾT HẾT CỘNG NÔ”.
Và “ĐỂ SẼ CÓ NHÂN QUYỀN”.
Nguyễn Văn Chức ( Houston 19/05/2005 )

Vĩnh Biệt Phạm Duy !

Du Lam
Thú thật, tôi rất mê Phạm Duy tới độ gần như là con nghiện, và bên cạnh ông sự tương hợp dường như có bàn tay mênh mông của tạo hóa xếp đặt nhiều hơn nghệ thuật, hay một liên doanh kiếm tiền, đó là ca sĩ Thái Thanh, nhạc Phạm Duy không ít người hát, nhưng những gì tồn đọng, trong lòng người Việt chỉ từ Thái Thanh, như vật nặng đọng lại và kết dính dưới đáy ly sau khi đã đổ đi phần nước, sự ví von có hơi khập khiểng, nhưng thực tế là như vậy. Cũng với Phạm Duy mà Thanh Lan trong Mùa thu chết, cũng chết khi hết mùa thu, những con cái ông như Duy Quang, Thái Hiền cũng sống với thập niên 70 tới 75, những : Cô Bắc kỳ nho nhỏ, Hai năm tình lận đận, Em hiền như Ma soeur, Tuổi thần tiên, Chú bé bắt được con công, Tuổi hồng,.. v.v… rồi cũng ra đi như cả gia đình ông sau 75.
Cả đời tôi cho tới hôm nay, vẫn mê nhạc Phạm Duy, nhưng có lẽ cả đời tôi không có diễm phúc tạn mặt ông một lần, dù hiện tại ông gần tôi hơn cái cộng đồng người Việt hải ngoại tới những 30 năm, có lẽ chẳng bao giờ tôi có khả năng sở hữu chiếc vé vào cổng những 500 ngàn đồng tiền Việt nam cho dù cũng ghiền lắm, với hạng bình dân lao đông thì tạn mặt ông mỗi lần một tạ gạo cũng loại gạo bình dân, ông đang “Hát rong” ở đất nước nầy, tôi cũng đang sống ở đất nước nầy. Nhưng đối tượng ngày trở về của ông không có những thằng tôi, hóa ra ghiền và được thỏa cơn là hai phạm trù đôi khi trái dấu.
Tôi biết mặt ông khi tôi còn nhỏ lắm, mười mấy tuổi ngày xưa còn bé lắm, nhân một tối anh chị tôi dẫn đi xem chiếu bóng miễn phí bỡi đoàn công tác Dân sự vụ Hoa kỳ về chiếu trong làng, làng quê tôi không chịu ảnh hưởng chiến tranh nhiều lắm, nên thường có những buổi như thế, cả người chiếu bóng lẫn người xem không sợ Plactis (chất nổ) của phía bên kia, tôi được xem Phạm Duy hát bài Giọt mưa trên lá với một người Mỹ, cả hai cùng mặc bộ bà ba đen cổ kiềng, bộ áo quần ấy không hề giống người dân quê Việt nam đương thời, mà là sự rập khuôn của cán bộ Bình đình xây dựng nông thôn; một lần khác, đúng ra tôi có thể gặp Phạm Duy bằng xương bằng thịt, khi ông tới Thị xã Đà nẵng hát cho sinh viên học sinh (SVHS), tôi cũng là một học sinh nhưng của trường huyện lỵ, thế là tôi tới hơi trể, và chương trình cũng có thay đổi nên lại ôm hận.
Số là vào năm 1972, hôm ấy theo dự kiến Phạm Duy sẽ tự hát nhạc mình ở trường Phan Chu Trinh (PCT) – Đà nẵng, theo sự sắp xếp của thị trưởng là Đại tá Nguyễn Ngọc Khôi, vì là trường lớn và giỏi của thị xã, nhưng vào giờ chót do chuyến đi được tài trợ của Hội Việt Mỹ, mà hội nầy có cours bên Nữ trung học Hồng đức nên ông phải sang diễn tại đây, chúng tôi kéo từ PCT sang Hồng đức thì đã chật ních người, không tài nào chen lọt, thế là đành đứng ngoài đường Thống nhất (Lê Duẫn bây giờ) nghe ông hát được nữa bài Ngày trở về thì “chiến tranh” ập tới, bom trứng gà và cà chua dù không thối, ném từ khán giả lên khán đài, tuy có hàng rào an ninh do nhưng Cảnh sát và Quân cảnh họ cũng làm chiếu lệ, bỡi họ biết nguyên nhân, chứ không phải phá hoại của Việt cộng, những câu chửi bới lớn giọng, đúng mà sai sai mà đúng, Phạm Duy bán nước, Phạm Duy theo Mỹ,.. v.v… mà những ngày sau tôi mới hiểu ra rằng đó là sự kích động, đúng là HSSV thời bấy giờ dị ứng với người Mỹ, hai là chuyện tự ái của PCT về cuộc di tản không bài hát của ông theo yêu cầu Hội Việt Mỹ. Từ đó về sau nhạc sĩ tài hoa nầy không dám tới miền Trung, còn tôi thì đi học, không thể có một dịp nào hãn hữu mà vô duyên hơn thế nữa.
Dòng dời trôi dạt, tôi vào Sài gòn chuẩn bị cho mùa thi Đại học thì miền Nam rơi vào tay CS, sau 30/4/75, ông ra nước ngoài, tôi trở về với ruộng vườn quê nhà, trong những ngày bài trừ văn hóa miền Nam dưới tiêu đề “Bài trừ văn hóa nô dịch, phản động, đồi trụy” trong cả tủ sách phải nộp cho chính quyền Quân quản, có duy một quyển tôi tiếc tới ngậm ngùi, đó là Phạm Duy còn đó nỗi buồn của nhà văn Tạ Tỵ; nhưng tôi vẫn âm thầm dấu lại di sản của cặp bài trùng, đó là cuốn băng cassett Thái Thanh hát nhạc của ông, những Nghìn trùng xa cách, Còn chút gì để nhớ, Chuyện tình buồn, Mùa thu chết… mỗi khi nữa đêm, lắng nghe chùng, thấy hay, ngọt ngào, như cái ngon của người ăn vụng.
Thời gian cứ trôi đi như thế, tôi phải kiếm việc làm nuôi miệng, tôi vào làm cu-li cho nghành đường sắt, cuộc đời rày đây mai đó trên các tuyến, mà hầu hết ở miền quê, hay vào sâu những vùng còn hoang sơ, cứ đêm về, chúng tôi lại cùng nhau ôm cây guita cũ rích, nứt thùng, hát cho nhau nghe những tác phẩm của ông, mặn mà tình tự, bên những chén rượu nấu từ mật mía, những thứ tiện nghi nho nhỏ ấy làm vơi đi kiếp lưu đày hằng ngày chúng tôi phải sống, mong cho đêm về trút hết bằng những lời ca, cũng nhờ thế mà cuộc đời có thể vượt qua và ông thành tri kỷ, một thứ tri kỷ nhận vơ qua những tiếng đàn.
Tôi lại mang theo ông ra tới chiến trường biên giới, từ những ngày đầu năm 1977, tôi vào bộ đội, tôi mang ông theo trong trí nhớ có thiên vị của mình, so với Vũ Thành An và mười bài không tên, hay Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, cũng là những người tôi thích, nhưng họ chỉ chiếm một phần nào, thời bấy giờ tôi nghiễm nhiên là quân nhân Cách mạng (CM), anh bộ đội cụ Hồ, tôi hát thoải mái hơn vì không ai chụp cho tôi chiếc mũ đen phản động, tôi đang cầm súng trong chiến hào cộng sản (CS), làm sao có thể phản động được kia chứ? Thời gian nầy tôi đặc biệt dị ứng với Trịnh Công Sơn đã một thời phản chiến làm đời tôi chung với nhiều cuộc đời tàn tạ, nhất là tôi tạn mặt anh ta trên chuyến tàu thống nhất đầu tiên ra bắc buổi khánh thành. Với suy nghĩ cực đoan của tôi anh ta là kẻ xu thời, một thứ CM ba mươi như cả miền Nam vẫn gọi.
Những bài ca tình tự của Phạm Duy với tôi khi làm người lính có nhiều hạn chế, lính miền Nam NVQS (?) còn sợ sệt chính trị viên, nhất là lúc dừng quân sau một trận đánh, sợ cho là làm “Yếu lính” với sự ủy mị, cũng chẳng thể cây dài bóng mát gì ở xứ Chùa Tháp Ăng co trong mùa khô, mùa tổng phản công, những cánh rừng tàn tạ, nước khô kiệt, có khi phải đái vào khăn tay rồi vắt uống lại cho đỡ khát, nhưng Phạm Duy thần tình, lỗi lạc, hợp cảnh hợp tình, với Áo anh sứt chỉ đường tà phổ Màu tím hoa sim của Hữu Loan, hay Bà mẹ Gio linh, hoặc xa tới đồng bằng Bắc bộ với Tiếng hát sông Lô, với Thương binh, Mùa đông binh sĩ, và làm mũi lòng người lính cả ngài Chính trị viên cũng không bỏ dỡ với Ngày trở về, chiến cuộc phải hay quấy thuộc về các nhà chính trị cấp trung ương (TW), còn người lính, đạn bom không cần biết đúng sai, không chọn người mà gặp, nghĩ thân phận mình ai cũng mũi lòng nếu… ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê, đến bên lũy tre… rất Việt nam, khác với những rừng thốt nốt.
Rồi chiến tranh cũng dần im ắng, chúng tôi buồn, buồn lắm ở chỗ không phải một mà quá nhiều người nằm xuống, bài Cho người vừa nằm xuống như lời từ giả bạn bè, đồng chí, đồng hương chưa mang xác về quê nhà. Chúng tôi hồi hương vào nữa đầu năm 80, bỏ bạn bè còn nằm đó những nấm mồ chưa có cỏ, chẳng dám có tên mà chỉ có một bảng số cho mỗi con người. Hành quân về tới Thanh An là căn cứ đồn Tàm trước 75 khốc liệt của Cao nguyên đất đỏ, chúng tôi biết mình còn sống, dừng lại một đêm nhìn khoảng trống mênh mông của nghĩa trang quân đội tạm thời cũng toàn biển số, mà nơi đây, hôm nào đi qua là những cánh rừng còn hoang sơ như chưa có bóng người, không phải chỉ bạn mình mà người trong cả nước, họ còn nằm đây cả, đêm đó chúng tôi không ngủ, lại tới với Phạm Duy, ngày mai chúng tôi sẽ tới với … Em Pleiku, má đỏ môi hồng, ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông… thế là không ai bảo ai, bài hát ấy thành bài đồng ca đậm hơi, thuốc lá đá thuốc Lào, chúng ta những người còn sống, ngày mai chúng ta diện kiến với còn chút gì để nhớ, làm…anh khách lạ, đi lên, đi xuống, ..những một tháng trời an dưỡng trước khi ra quân thì … May mà có em, đời còn dễ thương… những ngày trú tại Pleiku là đế vương của lính thật, cà phê ngon, không gian ấm cúng, trời se se lạnh, đúng là ông Hữu Định hòa quyện với nốt nhạc tài hoa của Phạm Duy có tới đây rồi mới thấy, các em Pleiku cứ giạt ra trước cửa rạp chiếu bóng Diệp kính, nhường đường cho mấy “chú bộ đội” xem phim chùa không mất tiền mà lại ưu tiên, lính chiến về thành phố cũng có cái hay ấy, chúng tôi cứ ngông nghênh bất cần đời, và lúc nầy cũng cực đoan, cứ áo xanh (lính) ở đâu thì áo vàng (công an) trốn biến, còn không là có chuyện nổ súng.
Ngày tháng đi qua không nhanh với nỗi sốt ruột, mong gặp cha mẹ để mừng, nhưng không thể chuồn được, chín đấm chịu rồi còn một đá có trẹo hông cũng phải theo, thế là những …Gánh lúa, Bà mẹ quê được soạn ra để dỗ dành lòng mình nên cố gắng, ngày xuống núi rồi cũng tới. Họ khôn thật, một tháng ăn chơi trên cao nguyên, chúng tôi như giũ sạch chiến tranh, mập, trắng ra, áo quần mới tinh tiến về đồng bằng, quê nhà tôi, bà mẹ quê có già đi vì chờ đợi, giọt nước mắt mừng rỡ ứa ra của cả hai mẹ con, thế là mẹ tôi không bao giờ làm Bà mẹ Gio linh…
Từ đó cho tới mấy năm sau tôi cứ sáo mòn với những bài trước 75 của Phạm Duy, không từ một bài nào tôi thuộc, những tháng ngày thổ tả, cơm không đủ no ông lại cần thiết hơn như vị cứu tinh làm vơi cơn đói, cả nước họ đều như vậy thì mình cũng chẳng thể hơn; Cho tới một ngày, có người quen từ Sài gòn ra cho một cuốn băng, cũng nhạc Phạm Duy như cũ, tiếng hát Thái Thanh nhưng không nghe mặn mà gì, có thể bà ấy có tuổi, cũng có thể bà ấy không có không gian Việt nam tăng thêm diễn cảm, và cũng có thể tôi chưa kịp cập nhật thứ nhạc cụ điện tử ở Hải ngoại họ hòa âm, phối khí chăng? Tôi cất giữ nhưng không thường nghe như cuốn băng của tôi từng cất giấu, nhạc hải ngoại du nhập nhiều hơn và nhà nước cũng không còn căng thẳng với nó, có quen dần nhưng vẫn không thấy hay, do Thái Thanh hay do Phạm Duy thiếu thiếu một cái gì không hình dung được… những Mẹ năm 2000, hay Một mai tôi sẽ chết,… v.v… tôi không chú ý nên chẳng nhớ nhiều.
Tới hôm nay, nghe tin ông trở về ở luôn quê nhà trước tin ông “Chết” tôi ngậm ngùi, tôi nuối tiếc một thiên tài âm nhạc, tôi không rõ vì sao ông trở về? Bên nước Mỹ bây giờ cũng ăn cơm bằng đũa như ở VN, cũng có phở với giá trụng hơi sông sống, cuộc đời từng có lúc làm du ca, hay ông chưa thỏa mãn với kiếp du ca ngắn ngũi trước 75? Hay ông cần tiền với giá vé nữa triệu một ghế? Cũng bộn xu thật, hay chính ông muốn nắm xương mình chốn trên đất mẹ VN? Ông đã chết ! mọi lý giải đều vô ích, tôi không tự tìm ra cho mình một lời giải thích nào tương đối hợp lý, nhưng tôi tiếc cho một kiếp người tài hoa lại bạc mệnh lúc cuối đời, chết mà không hề trăn trối với những ca sĩ, nhạc sĩ nghiệp dư như tôi, một con nghiện nặng đô chưa từng thỏa mãn cơn ghiền, nghe tin ông tự tử, trước khi chết.
Ông không trăn trối gì, ông chỉ nói những điều vớ vẫn với bọn người vớ vẫn, họ không cần ông gần cả đời ông, bỡi quảng thời gian ấy họ căm thù ông là tên phản động, một lần bỏ kháng chiến theo giặc vào Nam, còn gọi là “Quân đuổi Pháp quá đà” rồi lần khác sau 20 năm ông đói bơ khát sữa, ông không giống họ bao giờ, mà khác nhau như hai thái cực, ông nghệ thuật vị nghệ thuật, họ nghệ thuật vị nhân sinh, làm thế nào mà cuối kiếp người ông lại vị nhân sinh một cách hoang phí như thế nhỉ?
Thôi thì cứ đổ tại số trời, ông chết đi thay vì để lại lòng thương cảm từ những người đi cùng ông xa xứ, ông cũng nên cảm ơn 30 năm qua chính họ góp tiền nuôi sống, là vé máy bay cho cả gia đình ông tới nữa vòng trái đất, là nhà ông mới mua ở đất Sài gòn, tôi không tin CS sẽ L’amour c’est pour rien, Tình cho không với ông những tiện nghi hôm nay ông đang có, thế thì tại sao ông lại nói ra những lời vớ vẫn phụ tình? Hay thời trai tráng ông có quá nhiều những cuộc tình với cả Tây trong Mùa thu Paris, Tiễn em, hay thân tình gần gũi với Tạ Tỵ nói ra, để rồi bây giờ ông bị mắc lời nguyền nên ông tự sát?
Cũng còn cố gắng níu kéo với ông một điều đôi khi tuổi già làm con người nghễnh ngãng không kiểm soát hành vi? Thế là, cả đời tôi với ước mơ một lần tạn mặt, chẳng còn bao giờ có thể khi ông đã ra đi, tôi mong ông một chiến sĩ chiêu hồi, một lần bên nầy và một lần bên kia, thi thể ông sẽ được chôn trong nghĩa trang Mai dịch, nơi những công thần chế độ yên giấc nghìn thu.
Vĩnh biệt ông mà bên tai tôi còn văng vẵng giọng hát của ông cùng với Khánh Ly trong Album 50 năm đời vẫn hát của chị,… một mai tôi sẽ chết trên đường về nơi cõi hết, tôi sẽ đem theo với tôi những gì đây?… tôi không đem theo với tôi được tiền tài hay danh vọng, tôi không đem theo với tôi… những tượng đồng bia đá trắng… những khát vọng tiếng anh hùng…
DU LAM
Việt nam tháng 5/2006

Nh&#7841;c s&#297; Ph&#7841;m Duy t&#7841;i m&#7897;t s&#7921; ki&#7879;n di&#7877;n ra &#273;&#7847;u n&#259;m 2012. &#7842;nh: T.Toan

Phạm Duy: "Tôi về đây là vì tôi yêu nước."
http://nghiathuc.wordpress.com/2012/12/19/pham-duy-toi-ve-day-la-vi-toi-yeu-nuoc/
"Trăm năm bia đá thì mòn.
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ."

********************************************************************************************

Nhận hung tin:
Thân phụ của Văn Hữu VŨ VĂN HOA
(Chủ Nhiệm Báo Việt Nam Mới tại Houston
Là cụ Ông Cụ VŨ KHẮC ANH
Pháp danh: Trí Minh
Sinh quán: Phượng Trì, Yên Mô, Ninh Bình, Việt Nam
đã mệnh chung lúc 11giờ sáng ngày 12 tháng 1 năm 2013
(nhằm ngày 1 tháng Chạp năm Nhâm Thìn)
tại Seattle, Washington, Hoa Kỳ
Hưởng thọ 91 tuổi
Chúng tôi là toàn thể thành viên Văn Bút Nam Hoa Kỳ
Đồng thành tâm dâng lời cầu nguyện cho hương linh
Cụ Ông Trí minh mãi mãi là cành hoa tinh khiết sớm hưởng Cực Lạc Phúc ở cõi Vĩnh Hằng
Và Đồng Thành Kính Phân Ưu cùng Tang Quyến.
Đại Diện Văn Bút Nam Hoa Kỳ
Túy Hà/Tổng Thư Ký

INTERNATIONAL PEN
VietNamese Abroad PEN Centre (VAPC)
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN)
8875 Holly Ave. Westminster, CA 92683. USA
Phone: (714) 891-9972, (714) 326-5558. Fax: (562) 436-8998
CHIA BUỒN
Ðược tin buồn Thân mẫu của VH Bùi Dương Liêm và Nhạc Mẫu của NV Nguyễn Thị Bé Bẩy là
Cụ Bà Quả Phụ BÙI DƯƠNG THANH
Nhũ Danh Cécilia TRẦN THị TỈNH
Đã tạ thế ngày 12 tháng 11 năm 2012, tại Virginia,
Hoa Kỳ
Nhằm ngày 29 tháng 9 năm Nhâm Thìn
Hưởng Thượng Thọ 89 tuổi
Thay mặt BCH và cùng toàn thể Văn Thi Hữu VBVNHN xin thành kính phân ưu với anh chị Bùi Dương Liêm và
Nguyễn Thị Bé Bẩy
Nguyện cầu hương linh cụ Bà sớm hưởng nhan Thánh Chúa.
Ðồng Thành Kính Phân Ưu
TM BCH VBVNHN
Vũ Văn Tùng
Chủ Tịch

PHÂN ƯU
Nhận được tin buồn
Dược sĩ Nguyễn Thị Hai
Phu nhân của Cố Giáo sư Nguyễn Văn Trang
Nguyên Cựu Dân Biểu Việt Nam Cộng Hòa

vừa từ trần vào sáng ngày 1 tháng 11 năm 2012 tại Irvine, California
Hưởng thọ 90 tuổi.
Hội Dược Sĩ Việt Mỹ Nam California (VAPAISC) thành kính chia buồn cùng tang quyến,
Nguyện cầu hương linh Cô Nguyễn Thị Hai sớm tiêu diêu miền cựu lạc.
HỘI DƯỢC SĨ VIỆT MỸ NAM CALIFORNIA.
Vũ Văn Tùng-Tuyết Yên
Liên Hội Thế Giơi Dựọc Sĩ VN Tự do
Hội Dược Sĩ Việt Nam tại Toronto
Thành kính phân ưu cùng tang quyến.
Xin nguyện cầu hương linh Dược sĩ Nguyễn Thị Hai sớm tiêu diêu nơi cõi phúc.
DS Cao Văn Hồng
TM Ban Điều Hợp LHDSVNTD
TM BCH Hội Dược Sĩ Việt Nam tại Toronto
__._,_.___

(Đám tang Nhạc Sĩ Trần Trịnh) 
Trích F/B của Bùi Ngọc Mai
Sáng Thứ Bảy hôm nay bầu trời đã không như mọi ngày,..  
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=4877574344126&set=a.1292464238614.192870.1440533675&type=1
NM

----- Forwarded Message -----
From: Bui Ngoc Mai
Sent: Saturday, October 20, 2012 9:06 PM
Subject: Re: Tang Lễ NS. Trần Trịnh
Cuối hồn một thoáng nhớ mong manh *


Sáng Thứ Bảy hôm nay bầu trời đã không như mọi ngày. Tia nắng sớm mai không còn rực rỡ reo vui trên cành lá sau vườn mà thay vào đó là một màu xám xám u buồn. Tôi tự hỏi có phải chăng đất trời đang ủ rủ theo tin buồn dương thế vì hôm nay tôi đang chuẩn bị đến đưa tiễn người nhạc sĩ tài hoa Trần Trịnh.
Nhà quàn Melrose Abbey với kiểu kiến trúc đặc thù được xây dựng từ năm 1929 bởi một kiến trúc sư từ Laguna Beach trên vùng đất từng là trang trại trồng cam ngày xưa . Lối kiến trúc này đã làm cho nhà quàn có một nét riêng cùa nó : vừa trang nghiêm , lại không kém phần ấm cúng . Tôi bồi hồi bước vào , cảm giác buồn nao nao , man mác khi nhìn vành khăn tang trắng của gia đình vì chẵng những biết đây là đám tang của nhạc sĩ Trần Trịnh mà lại làm cho tôi bồi hồi nỗi nhớ người cha đã mất và cũng quàn tại đây ba năm về trước.

Buổi lể cầu siêu và cúng cơm do Hòa Thượng Thích Chơn Thành và Hòa Thượng Quảng Thanh chủ lễ. Tiếng thầy nhẹ nhàng, ân cần thấm thiết khi giãng về lẽ vô thường cho hai người con của NS Trần Trịnh. Sau đó là phần thăm viếng của quan khách. Các ca sĩ, nghệ sĩ đến thật đông ( NS Anh Bằng, NS NGhiêm Phú Phát, NS Tuấn Khanh, ca sĩ Trang Thanh Lan, Ca Si Diễm Chi, Ca sĩ Phượng Linh, Ca sĩ Phương Uyên, Mai Ngọc Khánh, ca sĩ Bạch Tuyết, Ca sĩ Tuấn Minh, Tuấn Khải, vợ chồng MC ca sĩ Thúy Anh, NS Trúc Hồ & Diệu Quyên, MC Việt Dzũng, MC Diễm Hương, Nhóm Star Band của BS Phạm Gia Cổn vv... bên cạnh các đài truyền thông: FreeVn.NET, SaiGon TV, Vietface, VHN, Mẹ VN... các xướng ngôn viên: Minh Phượng, Hồng Vân, Trần Quốc Bảo,... cùng các vị đại diện báo chí, nhiếp ảnh gia. Bên cạnh đó cũng có không ít các vị khán giả ái mộ đã đến phúng viếng NS Trần Trịnh. Những bài hát nổi tiếng của NS Trần Trịnh đã được phát lại trong giờ thăm viếng , đặc biết có sự đóng góp của ban nhạc... Các anh tự đến giúp vì tấm lòng ái mộ NS. Không khí tang lễ được bớt phần u buồn với tiếng kèn , tiếng đàn của các anh và đã đem lại cho đám tang một tính chất thật là " nghệ sĩ " ! Sau phần thăm viếng, phút quyến luyến chia tay bắt đầu. Đại diện cho gia đình em Trần Bách Tùng,Trần Ngọc đã lên cám ơn quan khách, ân nhân, thân hữu đã đến đưa tiễn và nghẹn ngào, thổn thức nói lời chia tay với Bố trong hai hàng nước mắt tuôn trào. Lễ hỏa thiêu đã hoàn tất. Buổi tang lễ kết thúc vào lúc 2 giờ. Mọi người ra về mà không khỏi tiếc nuối cho người NS hiến hòa, dễ mến. Trong làng âm nhạc VN lại mất đi một NS tài hoa. " Tình yêu là hoa rót mật cho đời "... để chúng ta có những tác phẩm để đời như Lệ Đá, Tiếng Hát nữa vời... khiến lòng ta bây tự hỏi với " chắt chiu kỷ niệm dỉ vãng, em nhớ gì không em ơi..." khi người nhạc sĩ khiêm tốn, tài hoa, hòa nhã , ôn hòa...nay đã trở về với cát bụi của hư không. Giọt lệ mà hai người con thổn thức trong lòng khi đưa tiễn người cha đã ra đi, sẽ chảy mãi trong suốt quãng đời còn lại của hai em. Mất cha là mất cả bầu trời tin yêu. Trăng còn xanh trên mái đầu non của hai em khi cha già vừa khuất bóng mà Mẹ cũng không còn. Đời sống còn thênh thang trước mắt. Khóc đi em, cho vơi bớt đau buồn. Hãy ấp ủ tình thương của Cha để làm nghị lực bước lên em nhé . Em mất đi hình hài, bóng dáng của Cha nhưng hãy sống theo lời dạy của Cha là cách làm hình ảnh của Cha sống mãi trong tim mình. Màu xám của bầu trời vẫn còn vương vấn. Nắng chẳng chịu lên hôm nay ! Xin rời Melrose Abbey ! Buồn !
Trong tâm thức tôi, còn đọng lại giọt nước mắt của hai người con trai vừa mất cha ! ... Buồn nào không cánh bay cao Giọt nắng rưng rưng cả trời Màu vương đắm hoa Buồn như tiếng ca lạc lõng ru say vào hồn... Tiếng hát nào chợt vút lên cao Oh ra esim pre ân tình là trời mê. Ngày vui chóng qua... Người đi quá xa còn nở mang theo nụ cười để lại khung trời hoang vắng đơn côi.

Tin Buồn
Chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin buồn
BS Nguyễn Tuấn Anh, MD
Nguyên Giáo Sư Đệ II cấp Trường Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Saigon
Nguyên cựu Y Sĩ Trường Quân Y Quân Lực VNCH
Nguyên Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống VNCH
Nguyên Y Sĩ Trưởng Quân Đoàn II tại Pleiku
Nguyên Y Sĩ Trung Tá Chẩn Y Viện Trung Ương Saigòn.
Cựu Dân Biểu Quốc Hội Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa
Thành Viên Ban Biên Tập Y TẾ Nguyệt San tại Hoa Kỳ
Nguyên Bác Sĩ Điều Trị tại BV Feliciana Forensic Jackson, Louisiana, USA.
Đã mệnh chung lúc 11:30 PM ngày 16 tháng 10-2012 tại San Jose.
Hưởng Thọ 79 tuổi.
Linh cữu hiện quàn tại
Lima Family Milpitas Fremont Mortuary
48800 Warm Spring Boulevard
Fremont, CA 94539
ĐT: (408) 263-2868
www.limafamilycedarlawn.com
Tang Lễ và thăm viếng:
Thứ Sáu: (10/26/2012): 10 AM - 9 PM
Thứ Bẩy: (10/27/2012): 5PM - 9 PM (Thăm Viếng)
Chủ Nhật: (10/28/2012): 9 AM - 2 PM (Thăm Viếng). Lễ Hỏa Táng lúc 3 PM.
Vũ Văn Tùng - Tuyết Yên.

Bn Tin Liên Hi Nhân Quyn Vit Nam Thy Sĩ
PEN INTERNATIONAL
In Memoriam
1939 – 2012
Nguyễn Chí Thiện
Poet
Văn Bút Quốc Tế Tưởng Nhớ và Thương Tiếc Cố Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời tại thành phố Santa Ana, tiểu bang Californie, Hoa Kỳ, ngày 2 tháng 10 năm 2012 là một Tin Buồn lớn đối với Văn Bút Quốc Tế (VBQT) và hai mươi ngàn hội viên. Một Tin Buồn lớn cho cộng đồng những người cầm bút dấn thân bảo vệ quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm, điều kiện thiết yếu để sáng tác và phát huy văn chương, để xây dựng dân chủ, bảo vệ nhân quyền, kiến tạo công lý và hòa bình chân chính.
Sáng ngày 3 tháng 10 năm 2012, sau khi nhận được Tin Buồn đó, nhiều văn thi hữu Văn Bút Quốc Tế đã gởi điện thư bày tỏ lòng thương tiếc và nhờ thi hữu Nguyên Hoàng Bảo Việt chuyển lời chia buồn đến tang quyến. Trong số những người gởi điện thư phân ưu đầu tiên có nữ văn hữu Joanne Leedom-Arkerman, Phó Chủ tịch Văn Bút Quốc Tế, nguyên Tổng Thư Ký VBQT kiêm Chủ tịch Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù (PEN WIPC) và nguyên Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Hoa Kỳ PEN USA, văn hữu Hori Takeaki, Tổng Thư Ký VBQT, văn hữu Eugene Shoulgin, nguyên Tổng Thư Ký VBQT kiêm Chủ tịch Ủy Ban PEN WIPC, nữ văn hữu Marian Botsford Fraser, Chủ tịch Ủy Ban PEN WIPC và nguyên Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Gia Nã Đại, nữ văn hữu Sara Whyatt, Giám đốc Chương trình Ủy Ban PEN WIPC và nữ văn hữu Chiara Macconi, đại diện Trung tâm Văn Bút Espéranto, nguyên Chủ tịch Ủy ban WIPC Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Trung Tâm Văn Bút Ý, người đã dịch ra tiếng Ý truyện Một Lựa Chọn trong tập Hỏa Lò (Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 2001). Sau khi hội ý với Ủy Ban PEN WIPC, nữ văn hữu Cat Lucas, đồng Chủ tịch Ủy ban WIPC Trung tâm Văn Bút Anh, đã cho đăng tin buồn và bày tỏ lòng thương tiếc - In Memoriam - trên trang web của Trung tâm ngày 4 tháng 10, kèm theo hình, tiểu sử và bài thơ Trong Bộ Máy của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua bản dịch tiếng Anh Inside The Trap Prison of Steel của học giả Huỳnh Sanh Thông (http://www.englishpen.org/in-memoriam-nguyen-chi-thien/).
Chiều ngày 9 tháng 10 năm 2012, trong một Thông Cáo - In Memoriam - do Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù (PEN WIPC) phổ biến toàn cầu (http://www.pen-international.org/newsitems/pen-community-mourns-the-death-of-nguyen-chi-thien-poet-1935-2012/), Văn Bút Quốc Tế bày tỏ lòng thương tiếc nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vừa qua đời. Thay mặt tất cả văn thi hữu hội viên, Văn Bút Quốc Tế gởi lời chia buồn đến gia đình và bạn hữu của cố thi sĩ Việt Nam, tác giả tập thơ nổi tiếng Hoa Địa Ngục. Hiệp Hội Nhà Văn Thế Giới long trọng xác định rằng nhà thơ Nguyễn Chí Thiện là một trong số 50 trường hợp điển hình tiêu biểu cho 50 năm hoạt động của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù. Văn Bút Quốc Tế nhắc lại tiểu sử của nhà thơ, mấy thập niên lao tù và thời kỳ lưu vong cùng những tác phẩm Hoa Điạ Ngục và Hỏa Lò. Cuối Thông Cáo, để tưởng nhớ và vinh danh nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, Văn Bút Quốc Tế mời tất cả hội viên cùng nhau đọc bài thơ Trong Bộ Máy kể ở trên. Văn Bút Quốc Tế cũng giới thiệu trang web Viet Nam Literature Project cho những người muốn đọc thêm thơ Nguyễn Chí Thiện (http://www.vietnamlit.org/nguyenchithien/poems.html).
Chúng tôi cho đăng lại với Bản Tin này toàn văn Thông Cáo In Memoriam Tưởng Nhớ và Thương Tiếc cố thi sĩ Nguyễn Chí Thiện của Văn Bút Quốc Tế và điện thư báo Tin Buồn của nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, Phó chủ tịch Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại (đặc trách Ủy ban WIPC PEN Suisse Romand), thành viên Trung tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong và Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc Genève (United Nations Society of Writers - Geneva).
Chúng tôi, ban biên tập Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam, góp lời với Trung tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong và Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại, nhờ nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt chuyển giùm lời Thành Kính Phân Ưu của chúng tôi đến ông Nguyễn Công Giân, bào huynh cố thi sĩ Nguyễn Chí Thiện và tang quyến. Chúng tôi còn xúc động và cầu nguyện cho hương linh của nhà thơ vừa khuất bóng. Chúng tôi không bao giờ quên tác giả Hoa Địa Ngục và Hỏa Lò, một nhà thơ chân chính, một nhà trí thức lương thiện, một con người Việt Nam có khí tiết và nhân bản. Không bao giờ quên, trong những năm những tháng cuối đời của một nhà thơ cựu tù nhân cộng sản, một chiến sĩ tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội, mặc dù có vấn đề sức khỏe, thi hữu Nguyễn Chí Thiện vẫn dành thì giờ viết thư phúc nhận từng bản Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam và khuyến khích chúng tôi tiếp tục tận tâm với nhiệm vụ và làm tròn bổn phận lúc mà quê hương và đồng bào, gia đình và bạn hữu thương yêu còn bị đoạ đày trong Địa Ngục Cộng sản.
Genève ngày 9 tháng 10 năm 2012
Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Ligue Viêtnamienne des Droits de l’Homme en Suisse
Vietnamese League for Human Rights in Switzerland
-------------------------------------------------------------------
In Memoriam
1939 - 2012
Nguyen Chi Thien
Poet
PEN International mourns the death of Vietnamese poet Nguyen Chi Thien who passed away on 2 October 2012. PEN members’ thoughts are with his family and friends.
Nguyen Chi Thien was one of the Writers in Prison Committee’s emblematic cases featured in the 50th anniversary of the Committee’s existence. Here is a brief background of his life.
Born in February 1935 in Hanoi , Vietnam , Nguyen Chi Thien was asked in by friend to teach one of his classes as he was ill. The year was 1960. In the lesson Chi Thien told the students that America had defeated Japan in World War Two, not the Soviet Union which the official curriculum claimed.
Nguyen Chi Thien was soon arrested and sentenced to two years imprisonment on the charge spreading “anti-government propaganda”. During what turned out to be a three and a half year incarceration he composed “almost a hundred poems” (committing them to memory). He was briefly released in 1964, however, he was soon re-arrested in February 1966 on the charge of producing “politically irreverent poems”. For this offence, and without trial, he was to serve 11 years in prison camps before being temporarily released in July 1977 because there was no room in the crowded camp to cope with the increasing flow of new prisoners coming from South Vietnam . Denied employment, Nguyen Chi Thien composed a further four hundred poems.
After the end of the Sino-Vietnamese war of 1979, afraid of being unable to survive if re-arrested, Nguyen Chi Thien decided to send his ‘’incriminated’’ poems abroad. In July 1979, braving security police, he handed his handwritten manuscript to diplomats at the British embassy after extracting a promise that the poems would be published. Upon leaving the embassy he was arrested by Vietnamese security forces and imprisoned for a further twelve years.
Nguyen Chi Thien was freed in October 1991 after international interventions, including by PEN members and granted asylum in the U.S.A. , where he was invited to address Congress. Between 1998 and 2001 he lived in France where he had been awarded a fellowship by the International Parliament of Writers. His Hoa Lo Prison Stories, a prose narrative of his imprisonment’s experiences, was translated and published in English as the Hoa Lo / Hanoi Hilton Stories by Yale Southeast Asia Studies in 2007. He returned to America and he settled in California where he continued writing. Nguyen Chi Thien’s collection of poems was published abroad in eight different languages and in 1985 he won the International Poetry Award in Rotterdam .
PEN International celebrates Nguyen Chi Thien’s life by sharing a sample of his poetry.
Inside The Prison Trap of Steel
Inside the prison trap of steel,
I want to see no streams of tears,
And laughter I want even less to hear.
I want that each of us
clamp tight his jaws,
withdraw his hands from everything,
refuse to be a buffalo, a dog.
Soak up this truth: this jail will last
As long as it holds buffalos and dogs.
Unless were are mere clay
we shall stay men.
Flowers from Hell translated by Huynh Sanh Thong. Yale Southeast Asia Studies 1984. ISBN: 0-938692-21-6
Click here for more of his poetry.
International PEN Writers in Prison Committee, Brownlow House, 50/51 High Holborn, London WC1V 6ER, Tel.+ 44 (0) 20 7405 0338, Fax: +44 (0) 20 7405 0339 (...)
* * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * *
De : Nguyen Hoang Bao Viet
Envoyé : mercredi, 3. octobre 2012 09:40
Objet : LE POETE NGUYEN CHI THIEN N'EST PLUS
.
Nguyễn Chí Thiện
Courtesy of Jean Libby,
ed. VietAm Review 2004
Dear Friends and Colleagues,
It is with profound sadness that I have to inform all of you that poet in exile Nguyen Chi Thiên has died this morning (2 October) in California , USA , at the age of 73. For memory, Nguyên Chi Thiên was a former imprisoned writer (for a total of 27 years in the camp), a PEN WIPC main case in 1971. He was one of the 50 Cases of persecuted Writers selected for marking the 50 years of activities of PEN Writers in Prison Committee (1960 – 2010) to defend freedom of expression.
* Herewith his last letter to Sara, some of his poems and a brief summary of his life.
I am certain that we will all miss him, we will miss him...
Sincerely yours,
Bao Viêt
Nguyên Hoàng Bao Viêt
Vice president PEN Suisse Romand (WIPC)
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
A letter from Nguyen Chi Thien to Sara Whyatt
- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -­­­ - - - - - - - - - -
Santa Ana, California, on 8 February 2010,
Dear Ms Sara Whyatt,
Director of Programme
Writers in Prison Committee
PEN International
London UK
c/o Nguyen Hoang Bao Viet
WIPC PEN Suisse Romand
Geneva Switzerland
On the occasion of the fiftieth anniversary of The Writers in Prison Committee of International PEN, I would like to express my profound gratitude to this noble Committee which has always taken sides with us, poets and writers imprisoned by all kinds of dictatorial and totalitarian regimes. As for me, I spent my aduld life (27 years) in concentration camps because of my poems that depicted the cruel realities of life in North Vietnam under communist rule. My poetry was no luxury. It was the sound of sobbing of my oppressed and mercilessly tortured compatriots. It was not hate, but faith in the victory of the Good over the Evil, passion for poetry, and especially, Hope that kept me alive. Together with Amnesty International, Human Rights Watch, Reporters Without Borders, PEN Writers in Prison Committee gave me this precious Hope that was indispensable for me to survive. Although in prison, I knew that many writers in the world read my poems, supported me. This idea gave me consolation and encouragement. I did not feel lonely even when I was alone in a dark cell, I had more courage, more perseverance in order not to knuckle under to brutal tyranny.
Dear members of the Writers in Prison Committee, please accept my heartfelt thanks, my deepest gratefulness for what you have done for me and for many writers, poets who were or are still being persecuted for their works.
My warmest regards
Nguyen Chi Thiên
----------------------------------------------------------------------------------
NGUYÊN CHI THIÊN
Nguyen Chi Thien was born in February 1939 in Hanoi , Viet Nam . The young dissident poet was arrested in 1961 and sentenced to two years imprisonment on charge of spreading propaganda against the communist government. During what turned out to be a three and a half year incarceration, he composed “almost a hundred poems” (committing them to memory). He was briefly released in 1964, however, he was soon re-arrested in February 1966 on charge of producing “politically irreverent poems”. For this offence, without receiving a trial, he was sent in February 1966 to the concentration camps in Phu-Tho, Yen-Bai, and Lao-Cai Provinces . He was temporarily released in July 1977 because there was no room in the crowded camp for increasing flow of new prisoners coming from South Viet Nam . Denied any form of employment, he often went to bed with an empty stomach in his sister’s home. After his release, Nguyen Chi Thien composed a further four hundred poems. After the Sino-Vietnamese war of 1979, afraid of being unable to survive if re-arrested, he decided to send his ‘’incriminated’’ poems abroad. On 16 July 1979, braving security police, he handed his handwritten manuscript to diplomats at the British embassy after extracting a promise that the poems would be published. Upon leaving the embassy he was arrested by Vietnamese security forces and imprisoned for a further twelve years (3 years in a solitary cell and 3 years in detention with common criminals). In October 1991, he was released thanks to strong international pressure (PEN International, Amnesty International, Human Rights Watch...) and the intervention of Noburo Masuoka, retired Air Force colonel, a career military officer who was drafted into the U.S. Army from an internment camp for Japanese Americans in 1945. But he continued to be placed under house arrest. In October 1995, under the Humanitarian Operation program, he was allowed asylum in the U.S.A. Between 1998 and 2001, he lived in France where he had been awarded a fellowship by the International Parliament of Writers. His Hoa Lo Prison Stories, a prose narrative of his imprisonment’s experiences, was translated and published in English as the Hoa Lo / Hanoi Hilton Stories by Yale Southeast Asia Studies in 2007. He returned to the U.S.A. and he settled in California where he continued to write. Nguyen Chi Thien’s collection of poems was published abroad in eight different languages. In 1985, he won the International Poetry Award in Rotterdam .
--------------------------------------------
Nguyên Chi Thiên’s poems
Inside The Prison Trap of Steel *1
Inside the prison trap of steel,
I want to see no streams of tears,
And laughter I want even less to hear.
I want that each of us
clamp tight his jaws,
withdraw his hands from everything,
refuse to be a buffalo, a dog.
Soak up this truth: this jail will last
As long as it holds buffalos and dogs.
Unless were are mere clay,
we shall stay men.
1970
Nguyên Chi Thiên
Flowers from Hell translated by Huynh Sanh Thông. Yale Southeast Asia Studies 1984. ISBN: 0-938692-21-6
In The Jungle Night A Bird Calls *2
In the jungle night a strange bird calls
Followed by a guard’s tripping shoe sounds
A patrol flashlight beams here and there
Form the cells come the shoutings of a madman
I lie immobile listening to the slipping away
Of my entire youth as it floats by
Jailings and diseases have killed in the bud
O how many burgeons that seek their way out.
1968
Nguyên Chi Thiên
The Flowers of Hell translated by Nguyên Ngoc Bich.
Tô Hop Xuât Ban Miên Dông Hoa Ky - Cành Nam Publishers 1996 USA .
--------------------------------------------------------------------------------
Le Jour du Têt (Nouvel An viêtnamien)
Le jour sacré du Têt est arrivé.
Ma cellule glacée me colore en violet.
Je vis reclus dans l'humide obscurité,
Baigné dans des odeurs pestilentielles,
Assommé par des fouilles perpétuelles,
Deux fois par jour, de sel nourri,
De l'eau à la place du riz,
Mes pieds sont enflés par le béribéri.
Des jours à contour imprécis, étourdi
Dans ma tombe gluante je suis enfoui,
Yeux embués, bouche en saillie, rêves moisis.
Dehors, le crachin transit...
L'âme des lointaines années
Réveille des printemps ensoleillés,
Ramène des foules de pensées;
Mon cœur étranglé voudrait éclater.
Elle revient, cette âme, à la réalité,
Au triste sort de lamentable prisonnier.
Comment revivre les moments
Des printemps enivrants,
Que jamais plus je ne reverrai,
Où je vivais en cercle familier,
Dans l'atmosphère de chaleur,
De bonheur,
Remplie d'amour,
De l'amour pour toujours ?
Le lit en ciment est d'un froid pénétrant,
Son haleine s'enfonce comme un mal perforant
Tout au long de mon dos.
La marmite de banh chung que ma mère mijotait (1)
Sur le feu qui dansait
Dans la triste nuit, sur le pays en sanglots,
Et illumine encore les horizons d'antan. Ô regrets :
Les bols de soupes de pousse de bambou,
De vessies de poisson frites au saindoux,
La mortadelle sur une assiette étalée.
L'atmosphère de recueillement
Pénétrait dans mon corps jusqu'aux derniers replis,
Comme l'affection entre gens de même sang,
Que jamais on ne peut délaisser dans l'oubli.
Voici mes parents,
Mes frères, mes sœurs, mes amis,
La tasse de thé, le verre d'alcool, la fumée d'encens ;
Quand je réalisais la valeur de ces moments,
Il y avait longtemps qu'ils s'étaient évanouis.
Restait mon chagrin condensé
Qui, jusqu'au bout de mes jours ne serait dilué,
Et qui meurtrit le cœur de l'homme aux cheveux blancs.
Les pétards accueillent, détonnant, le printemps
Dans la société misérable chamboulée :
Les ordures fleurissant,
Les hommes humiliés.
Que de printemps avaient défilé, engouffrés...
Et puis,
Vents et pluies des grands cimes m'appellent et me crient,
Un tombeau tend les bras pour cueillir mes souhaits,
Fermant l'horizon de mes rêves de bonheur,
Eteignant ainsi les flammes de mon cœur,
Les amertumes et les soucis.
Sont-ils donc ces moments bien finis,
Où, riant au soleil,
Chantonnant sous la pluie,
Je m'enivrais de la joie de la vie ?
Mon corps fané est voué à la disparition.
Dehors, les pétards tonnent triste, en de sèches explosions.
Couché, je suis malade comme un chien, mourant.
La bruine transit le poignard du froid piquant
Que le feu de la faim ne parvient à chauffer.
Telle une âme errante dans la nuit de l'hiver,
Sans faire de bruit, sourd et muet,
Je rêve à mon lointain chaleureux doux foyer.
Que mon cœur pulse bien mon sang frais,
Que mes larmes effacent la réalité !
Comme en songe, je vois revivre père et mère
Si doux mais solennels, l'air presque sévère !
Je me tiens près d'une branche de prunier et d'un mandarinier,
Mi-ivre, mi-éveillé.
L'encens exhale du brûle-parfum ses volutes de fumée,
Le plateau aux cinq fruits, juste à côté.
La tradition répand ses sentiers, sa fraîcheur,
Plein le ciel explosent les pétards, quelle chaleur !
Mais le lit de ciment refroidit durement,
Tout mon corps épuisé est pris de tremblement.
Mes pieds gelés,
Ma tête douloureuse, mon dos glacé,
J'implore en vain que veuille tourner ma chance,
Que sonne l'heure finale de mes souffrances.
J'ai soif, j'ai envie d'une gorgée d'eau chauffée.
Les pétards n'arrêtent pas d'exploser,
Décuplant mes céphalées !
Je tire la couverture sur mon visage,
Mon corps tremblant sans répit.
La fin d'année envoie son message.
La crise de fièvre me saisit...
Nguyen Chi Thien (1984)
Fleurs de l’Enfer traduit du vietnamien par Nguyen Ngoc Quy (1999)
Institut de l’Asie du Sud-Est .
(1) banh chung: gâteau traditionnel de Nouvel An au Viêt-Nam, à base de riz gluant entourant une pâte de fève et un morceau de viande de porc, le tout enveloppé de la chuôi (feuille de bananier) ou de la gai. La cuisson mijotée dure toute la nuit, et il faut veiller à entretenir le feu de bois, tâche souvent confiée à des enfants, ce qui laisse des souvenirs inoubliables.

Because Writers Speak their Minds: a celebration and a campaign

Because Writers Speak their Minds logo

50 Cases of persecuted Writers selected for marking the 50 years of activities of PEN Writers in Prison Committee (1960 – 2010) to defend freedom of expression.

---------------------------------------------------------------
Phụ bản : Hai bài thơ *1 và *2
Trong Bộ Máy
Trong bộ máy tù đày bằng sắt
Tôi không muốn thấy những dòng nước mắt
Càng không muốn thấy những điệu cười !
Tôi muốn sao tất cả mọi người
Chỉ có hàm răng nghiến chặt
Bàn tay không đụng vào đâu !
Không chịu hóa thân thành chó hay trâu
Phải thấm thía rằng tù chóng hay lâu
Là do có hay không lũ người trâu người chó
Nếu chúng ta không là đất thó
Chúng ta sẽ được là Người !
1970
Nguyễn Chí Thiện
Đêm Rừng, một Tiếng Chim
Đêm rừng, một tiếng chim xa lạ
Một tiếng giày canh bước hụt đà
Người lính đi tuần pin lấp lóa
Trong sà lim tiếng gã điên la
Ta nằm không động nghe từ tạ
Mảng đời niên thiếu lắng trôi qua
Đau ốm lao tù thui chết cả
Bao búp xanh lòng mới nhú ra (1968)
1968
Nguyễn Chí Thiện
Bản Chúc Thư của Một Người Việt Nam . 192 Bài Thơ Bi Hùng . Nhà sách Tú Quỳnh Xuất Bản Hoa Kỳ với sự thỏa thuận của Chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong.
(không ghi năm).
Hoa Địa Ngục – The Flowers of Hell . A Bilingual Selection Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ
Cành Nam Publishers 1996 USA .
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Ligue Viêtnamienne des Droits de l’Homme en Suisse .
Vietnamese League for Human Rights in Switzerland
*********************************************************************************


Nhận được tin buồn:

Thi sĩ - cựu Tù nhân Lương tâm
tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục

Người đã dâng hiến cả cuộc đời

đấu tranh cho đất nước Việt Nam
với 27 năm đày đọa trong ngục tù

Cộng Sản ác ôn

 

Thomas More NGUYỄN CHÍ THIỆN

sinh 27 tháng 2 năm 1939 tại Hà Nội
đã thoát vòng tục lụy, giả từ cõi đời
lúc 7 giờ 17 phút sáng

ngày thứ Ba 2 tháng 10 năm 2012
tại Santa Ana, California

hưởng thọ 73 tuổi.

Nguyện cầu hương hồn của nhà thơ sớm về an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.
Phan Đình Minh, Tâm Mãn, Trần Thanh Hiệp, Lưu Trung Khảo, MS. Trần Văn Oan, Võ Đại Tôn, Lê Dinh, Phan Văn Song, Trần Văn Thuần, Mai Thanh Truyết, Phan Kỳ Nhơn, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Hữu Của, Lê Bình, Vi Anh, Ngô Kỷ, Đặng Hùng Sơn, Phan Nhật Nam, Bùi Bảo Sơn, Phan Tấn Ngưu, Lê Duy San, Yung Krall, Ngô Minh Hằng, Phan Ni Tấn, Nguyễn Phục Hưng, Xuân Điềm, Tâm An Đỗ Văn Học, Dương Viết Điền, Bích Huyền, Cao Minh Hưng, Lưu Anh Tuấn, Hạnh Cư, BM Hùng, Nguyễn Lập, Nguyễn Thanh Huy, Hoàng Kim Loan, Mạc Phương Đình, Huỳnh Văn Của, Lê Tam Anh, Chu Tất Tiến, Paul Vân, Bùi Thế Trường, Trần Minh Xuân, Phùng Công, Trần Minh Nhật, Selon Ngọc Dung, Việt Dương Nhân, Tuấn Minh Tuyết Mai, Trần Trung Đạo, Vũ Đình Trường, Nguyễn Liệu, Vũ Duy Toại, Lý Tòng Tôn, Việt Loan, Nguyễn Quý Đại, Lê Tấn Tài, Vương Huê, Nguyễn Văn Bon, Phạm Đình Long, Trần Việt Hải và nhóm Từ Cánh Đồng Mây.

Đồng Thành Kính Phân Ưu

Đôi nét về những tác phẩm của cố thi sĩ Nguyễn Chí Thiện:

Tập thơ Hoa Địa ngục của ông xuất hiện ở hải ngoại vào năm 1980 sau khi tác phẩm này được lén đưa vào toà đại sứ Anh tại Hà Nội và được giáo sư Patrick J. Honey thuộc Đại học Luân Đôn (University of London), nhân chuyến đi Việt Nam năm 1979, mang được ra ngoài nước để phổ biến. Kèm trong tập thơ 400 trang viết tay này là lá thư mở đầu với lời ngỏ:
Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Đó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.

Vì tập thơ không ghi tên tác giả nên lần in đầu tiên năm 1980 do "Uỷ ban Tranh đấu cho Tù nhân Chính trị tại Việt Nam" phát hành tại Washington D.C. ghi tác giả là "Khuyết danh" hay "Ngục Sĩ" với tựa Tiếng Vọng Từ Đáy Vực.
Năm 1981, ấn bản khác của báo Văn nghệ Tiền phong phát hành ở hải ngoại được ra mắt dưới tựa Bản Chúc thư Của Một Người Việt Nam.
Nhan đề Hoa Địa ngục được dùng đầu tiên năm 1984 khi Yale Center for International & Area Studies in bản tiếng Anh Flowers from Hell do Huỳnh Sanh Thông dịch. Sau này người ta mới biết đến tên Nguyễn Chí Thiện.
Một số bài thơ trong Hoa Địa ngục đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc trong tập Ngục ca.
Cũng vì tập thơ này năm 1985 Nguyễn Chí Thiện đoạt giải "Thơ Quốc tế Rotterdam" (Rotterdam International Poetry Prize).