VAN BUT VIET NAM HAI NGOAI

HOI LUAN

NHA
BAN CHAP HANH
LIEN LAC
Gia Nhap Van But
THONG TIN
HOI LUAN
THU MOI
KHOA HOC, KIEN THUC
Dan Chu Tu Do
Tac gia tac pham
NIEN LIEM
Ung Ho
Canh Giac
Dong Y Tay Y
Video
Quoc Gia Viet Nam
International Pen
CHUC MUNG
CHIA BUON

DIỄN ĐÀN HỘI LUẬN VĂN BÚT(Không đăng tải những bài có tranh chấp cá nhân
 hay tập thể hoặc quảng cáo thương mại ngoài Văn Bút)

 

Trái Đất sẽ nóng lên đến mức nào?

Vivien Cumming
  • 21 tháng 3 2016
Chia sẻ
Image copyright AFP Image caption Các số liệu cho thấy 2015 là năm nóng nhất trong lịch sử kể từ khi các số liệu được ghi chép đầy đủ
Gần đây, thời tiết trở nên ấm hơn. Hồi tháng 11/2015, dân Anh đã trải qua tháng 11 nóng nhất từng được ghi nhận ở nước này.
Sau đó ít lâu, Tổ chức Khí tượng Thế giới thông báo rằng năm 2015 có lẽ là năm nóng nhất trong lịch sử kể từ khi các số liệu được ghi chép đầy đủ.

Chỉ có tăng lên?

Hiện nhiệt độ toàn cầu đạt mức cao hơn 1 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp, và đã lên tới một nửa mức trần theo thoả thuận mà các lãnh đạo thế giới đặt ra hồi 2009 nhằm giới hạn mức tăng tối đa là 2 độ.
Dường như nhiệt độ thế giới chỉ có ngày càng nóng lên mà thôi. Vậy thì thật sự Trái Đất có thể trở nên nóng đến mức nào? Có giới hạn nào đối với sự nóng lên toàn cầu do con người tạo ra?
Biến đổi khí hậu không phải là điều gì mới mẻ trên hành tinh chúng ta. Trái Đất đã trải qua vô số lần nhiệt độ dao động trong suốt lịch sử 4,6 tỷ năm, từ kỷ nguyên băng giá cho đến thời kỳ nóng thiêu đốt như lò lửa.
Nhưng cho dù khí hậu có thay đổi như thế nào chăng nữa, Trái Đất luôn trở lại với mức nhiệt độ gần như cũ. Đó là do Trái Đất có cơ chế để kiểm soát nhiệt độ.
Một cơ chế then chốt là hiệu ứng nhà kính. Các khí thải gây hiệu ứng nhà kính, chủ yếu là carbon dioxide, methane và hơi nước, giúp giữ nhiệt tỏa ra từ Mặt Trời và có công dụng như tấm màn nhiệt phủ quanh Trái Đất.
Nếu không có hiệu ứng nhà kính thì Trái Đất có lẽ sẽ có nhiệt độ trung bình là âm 18 độ C và bị phủ trong băng tuyết. Sự sống bình thường như những gì chúng ta biết sẽ không thể tồn tại.
Image copyright AFP
Hiệu ứng nhà kính rõ ràng là điều tốt. Nhưng cũng giống như những điều tốt khác, có khả năng nó vượt quá ngưỡng.
Con người chỉ mới có mặt trên hành tinh này trong khoảng thời gian tương đối ngắn. Vậy mà chúng ta đã trở thành nhân tố quan trọng nhất khiến nhiệt độ Trái Đất biến đổi.
Với việc sử dụng năng lượng hóa thạch và tàn phá rừng, chúng ta đang thải ra nhiều khí carbon dioxide vào khí quyển và điều này khiến nhiệt độ tăng lên.
Từ năm 2000 cho đến 2010, con người đã xả khí thải cao gấp bốn lần so với thập niên trước và hiện chưa có mấy dấu hiệu cho thấy mức phát thải sẽ giảm xuống.
Vấn đề là liệu những khí thải gây hiệu ứng nhà kính này sẽ khiến thế giới nóng lên đến mức nào trong những thập niên, những thế kỷ sắp tới?

Dự đoán bằng mô hình

Để dự đoán tình trạng Trái Đất trong tương lai, các nhà khoa học đã xây dựng các mô hình máy tính nhằm mô phỏng điều gì sẽ xảy đối với khí hậu Trái Đất.
Những mô hình rất phức tạp này được thiết kế dựa trên những nguyên tắc vật lý cơ bản về phản ứng của không khí và nước.
Bằng cách đưa vào những thay đổi tự nhiên và thay đổi do con người gây ra, các mô hình này có thể ước tính khí hậu sẽ biến đổi ra sao khi có một lượng khí gây hiệu ứng nhà kính được thải ra.
Những dự đoán này đã được đưa vào các báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC).
Theo báo cáo mới nhất được thực hiện trong năm 2013-2014, nếu lượng phát thải tiếp tục tăng như trong vòng 50 năm qua thì đến cuối thế kỷ này, nhiệt độ Trái Đất sẽ ít nhất nóng hơn 4 độ C so với thời kỳ trước Cách mạng Công nghiệp.
Image copyright Getty Images
Hơn nữa, tình trạng ấm lên toàn cầu sẽ không dừng lại vào cuối thế kỷ này.
Càng nhìn xa hơn về tương lai, chúng ta càng khó dự đoán điều gì sẽ xảy ra.
Các mô hình hiện nay cho thấy vào năm 2200 Trái Đất sẽ tăng lên thêm 7 độ C so với mức thời tiền công nghiệp hóa, nhưng nhiệt độ sau đó sẽ ổn định trở lại miễn là chúng ta dừng thải ra khí gây hiệu ứng nhà kính.
Tuy nhiên, chúng ta không thể nào biết chắc được điều đó, bởi khí hậu Trái Đất là một hệ thống phức tạp. Khi khí hậu ấm lên, có một số quá trình sẽ hoạt động lại và điều này thậm chí còn dẫn đến sự tăng nhiệt độ nhiều hơn.
Ví dụ, khí hậu ấm lên sẽ khiến băng tuyết tan chảy, làm lộ ra lớp đất đá và lớp đất này sẽ hấp thụ ánh nắng Mặt Trời chứ không phản chiếu nó.
Tương tự, sẽ có nhiều hơi nước bốc hơi lên khỏi bề mặt và do hơi nước cũng là một khí gây hiệu ứng nhà kính, nó sẽ giữ nhiệt không cho thoát ra.
Các đại dương thật sự đang làm chậm sự biến đổi khí hậu, do carbon dioxide từ trong khí quyển được hòa tan vào các đại dương. Nhưng khi ấm lên, các đại dương sẽ ngậm được ít carbon dioxide hơn và do đó lượng carbon dioxide trong khí quyển sẽ còn lại nhiều hơn.

Methane thoát ra

Những phản ứng này tương đối dễ hiểu.
Tuy nhiên, có những hiện tượng khác khó giải thích hơn.
Chẳng hạn như sự thay đổi trong lớp mây sẽ ảnh hưởng đến khí hậu như thế nào, hay sẽ ra sao khi khí methane được giữ trong tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu ở các địa cực thoát ra.
Các mô hình mô phỏng sự biến đổi khí hậu chỉ có thể dự đoán dựa trên những gì chúng ta biết. Cho nên khi nhiệt độ tăng quá mức con người từng biết thì kết quả dự đoán sẽ trở nên kém chính xác hơn.
Do đó, thay vì tìm cách dự đoán khí hậu Trái Đất sẽ như thế nào, chúng ta có thể làm cách khác: nhìn lại những gì đã xảy ra trong quá khứ.

Nóng ấm toàn cầu thời cổ đại

Khoảng 55 triệu năm trước, Trái Đất đã trải qua một đợt tăng nhiệt độ nhanh nhất trong lịch sử.
Trong thời kỳ nóng ấm toàn cầu thời cổ xưa, thời Cực đại Nhiệt Cổ-Thuỷ Tân (Palaeocene-Eocene Thermal Maximum - PETM), nhiệt độ trung bình trên mặt biển đã tăng lên đến 10 độ C ở các địa cực so với mức âm 2 độ C ngày nay.
Image copyright Reuters
Đó là lúc các cây cọ mọc tới tận vòng Bắc Cực, nơi khi đó không hề có chút giá băng nào. Một số loài sinh vật phát triển mạnh dưới cái nóng trong khi các loài khác bị tuyệt chủng.
Rõ ràng là các loại khí gây hiệu ứng nhà kính là tác nhân chính. Một lượng lớn khí methane từ đáy biển đã thoát ra, đi vào bầu khí quyển khiến cho tác động của hiệu ứng nhà kính thêm rõ rệt.
Người ta không biết rõ bằng cách nào mà khí methane thoát ra. Nhiều khả năng các vụ phun trào núi lửa hay tác động của sao chổi là những nguyên nhân gây ra tình trạng này.
Tuy nhiên, cách giải thích hợp lý nhất là Trái Đất đã ấm dần lên vì một số lý do khác. Khi nhiệt độ lên đến một mức nào đó thì lượng khí methane chìm dưới đáy biển sẽ trở nên mất ổn định.
Thời Cực đại Nhiệt Cổ-Thuỷ Tân cho thấy có sự tương đồng rõ ràng với thế giới hiện nay.
Tác động của khí gây hiệu ứng nhà kính gây ra trong thời kỳ đó dường như gần tương đương với những gì con người sẽ thải ra nếu chúng ta đốt hết toàn bộ nhiên liệu hóa thạch tìm thấy.
Những khí thải này sẽ làm Trái Đất nóng lên ít nhất 5 độ C hoặc có thể đến 8 độ C trong một vài ngàn năm.
Đó có phải là giới hạn, hay liệu Trái Đất thậm chí sẽ trở nên nóng hơn cả thời Cực đại Nhiệt Cổ-Thuỷ Tân?

Sự nóng lên của sao Kim

Chúng ta đã thấy sự nóng lên của Trái Đất là do có thêm nhiều lượng khí thải xả ra, tạo hiệu ứng nhà kính.
Về mặt lý thuyết, hiện tượng này là không thể ngăn chặn và nó sẽ đẩy nhiệt độ Trái Đất nóng lên thêm hàng trăm độ.
Image copyright SPL Image caption Mô hình trên máy tính về Hệ Mặt Trời, gồm (từ trái sang): Mặt Trời, sao Thuỷ, sao Kim, Trái Đất, sao Hoả, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên vương và sao Hải vương
Dĩ nhiên là điều này chưa từng xảy ra trên Trái Đất, nếu không thì chúng ta không thể nào tồn tại đến ngày nay.
Tuy nhiên, các nhà khoa học tin rằng nó đã xảy ra trên hành tinh gần nhất với chúng ta là sao Kim khoảng 3-4 tỷ năm trước.
Sao Kim gần Mặt Trời hơn Trái Đất, do đó bề mặt của nó nóng hơn.
Trên bề mặt, nhiệt độ tăng lên nhiều đến nỗi tất cả chất lỏng trên hành tinh này đều bốc hơi vào không khí.
Hơi nước đến lượt mình lại giữ không cho nhiệt thoát ra, và do không có nước trên bề mặt nên carbon dioxide không được hấp thụ trở lại. Cuối cùng thì bầu khí quyển trên sao Kim có đến 96% là carbon dioxide.
Nhiệt độ trên hành tinh này hiện nay là 462 độ C, tức là nóng đến mức có thể làm tan chảy cả chì, khiến sao Kim trở thành hành tinh nóng nhất trong Hệ Mặt Trời, nóng hơn cả sao Thuỷ nằm gần Mặt Trời hơn.
Gần như chắc chắn Trái Đất của chúng ta sẽ rơi vào tình trạng giống như vậy trong vài tỷ năm nữa.
Khi Mặt Trời trở nên già cỗi, nó sẽ dần đốt cháy hết nhiên liệu và phồng to thành một ngôi sao đỏ khổng lồ.
Cuối cùng, Mặt Trời sẽ trở nên sáng trắng và Trái Đất sẽ không còn xả được lượng nhiệt dư thừa vào vũ trụ.
Nhiệt độ trên bề mặt Trái Đất sẽ tăng cao khiến nước ở các đại dương sôi sùng sục, và Trái Đất sẽ rơi vào tình trạng bên bờ vực bị phá huỷ do hiệu ứng nhà kính, rồi tiếp đến là mọi sự sống trên Trái Đất sẽ bị diệt vong và Trái Đất sẽ bị bao phủ bởi một lớp carbon dioxide dày đặc.
Tuy nhiên, những thay đổi do Mặt Trời sẽ chỉ xảy ra sau hàng tỷ năm nữa.
Image copyright AP
Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu con người chúng ta có đẩy Trái Đất vào tình trạng bị phá huỷ bởi hiệu ứng nhà kính sớm hơn hay không?
Một nghiên cứu được công bố năm 2013 cho thấy tình trạng này sẽ xảy ra nếu như chúng ta thải ra một lượng carbon dioxide vô cùng lớn.
Lượng khí carbon dioxide hiện nay chiếm khoảng gần 400 phần triệu trong không khí, tăng lên so với mức 280 phần triệu ở thời trước Cách mạng Công nghiệp.
Để Trái Đất rơi vào tình thế bị huỷ diệt do hiệu ứng nhà kính, mật độ khí carbon dioxide trong không khí sẽ cần đạt mức lên tới 30 ngàn phần triệu.
Đây là mức cao hơn gấp 10 so với lượng carbon dioxide thải ra khi chúng ta đốt hết toàn bộ nhiên liệu hóa thạch mà con người đã biết đến cho tới nay.
Ngoài ra còn những tác nhân khác như khí methane dưới đáy biển, giống như khí methane thoát ra trong thời Cực Đại nhiệt Cổ-Thuỷ Tân. Tuy nhiên có vẻ như khả năng tất cả chúng ta bị thiêu cháy là tương đối thấp.

Nước biển dâng

Đương nhiên, điều này không có nghĩa là tình trạng Trái Đất nóng lên sẽ không nguy hiểm gì.
Chỉ cần nhiệt độ tăng lên vài độ C cũng đã đủ để gây ra hàng loạt tác động tiêu cực. Nhiều nơi trên Trái Đất sẽ trở nên quá nóng để con người có thể tồn tại.
Tại những điểm nóng nhất trên Trái Đất hiện nay, chẳng hạn như Thung lũng Chết ở California, nhiệt độ có thể lên tới trên 50 độ C.
Sức nóng như thế là nguy hiểm nhưng với các biện pháp bảo vệ chúng ta vẫn có thể tồn tại được. Đó là do không khí khô ráo khiến chúng ta đổ mồ hôi để làm mát cơ thể.
Mọi thứ sẽ phức tạp hơn nếu nhiệt độ vừa nóng và vừa ẩm giống như trong rừng nhiệt đới.
Hơi nước trong không khí khiến cho mồ hôi của chúng ta bay hơi chậm hơn, khiến chúng ta khó làm mát cơ thể hơn.
Nếu nhiệt độ Trái Đất tới năm 2200 tăng lên thêm 7 độ C như dự đoán, một số nơi trên địa cầu sẽ trở nên không còn ở được đối với con người.
Nếu nhiệt độ tăng lên 12 độ C thì phân nửa Trái Đất sẽ trở nên không còn có thể ở được.
Dĩ nhiên, chúng ta có thể thích nghi bằng cách lắp đặt các thiết bị điều hòa nhiệt độ.
Tuy nhiên, bên cạnh chi phí đắt đỏ, điều này sẽ khiến chúng ta bị nhốt bên trong các tòa nhà trong nhiều ngày hoặc trong nhiều tuần.
Theo xu hướng hiện tại tiếp diễn thì nhiều khả năng nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng thêm 4 độ C so với thời kỳ trước Cách mạng Công nghiệp và cao hơn hiện tại 3 độ C.
Điều đó sẽ không trực tiếp giết chết chúng ta cũng như không thể làm cho một số nơi trên hành tinh không thể cư trú được. Tuy nhiên nó sẽ gây ra những xáo trộn lớn.
Khoảng 20.000 năm trước, nhiệt độ Trái Đất thấp hơn 4 độ C so với bây giờ. Thời kỳ này được gọi là thời "Đại Băng hà Cuối cùng" (Last Glacial Maximum - LGM). Phần lớn Canada và bắc u bị bao phủ trong băng tuyết.
Kể từ đó, nhiệt độ Trái Đất đã ấm lên 4 độ C. Điều đó cũng đủ khiến khiến cho băng ở châu u và Bắc Mỹ tan chảy. Nước tạo ra từ băng tan làm mực nước biển dâng lên thêm mười mét, nhấn chìm những vùng đất thấp.
Nếu chúng ta xét đến điều này thì chúng ta sẽ dễ hình dung ra nếu Trái Đất tăng thêm 4 độ C thì chuyện gì sẽ xảy ra xung quanh chúng ta.
Bản tiếng Anh bài này đã đăng trên BBC Earth.

 

Hội thảo Biển Đông tại Nga

  • 2 giờ trước
Chia sẻ
Image copyright Other Image caption Các diễn giả tại hội thảo nhấn mạnh những hành động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông
Tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông, những diễn biến mới nhất về hành động phi pháp của Trung Quốc là nội dung hội thảo “Tranh chấp lãnh thổ và luật hòa bình trong thời toàn cầu hóa” tại Học viện Tư pháp Liên bang Nga hôm 21/3.
Hơn 100 chuyên gia chuyên gia, học giả, nhà Việt Nam học của Nga và quốc tế tham gia sự kiện do Học viện Tư pháp Nga thuộc Tòa án Tối cao Liên bang Nga tổ chức.
Các tham luận phân tích sâu các nguyên nhân, yếu tố lịch sử, hiện trạng tranh chấp hiện nay tại Biển Đông, dự báo những hành động tiếp theo của Trung Quốc trong mưu đồ độc chiếm Biển Đông và khuyến nghị biện pháp giải quyết vấn đề.
Tất cả các chuyên gia, học giả đều bày tỏ quan ngại “tình hình sẽ tiếp tục căng thẳng nếu Trung Quốc vẫn leo thang những hành động ngang ngược tại khu vực”.
Tiến sỹ I.A. Umnova, Trưởng ban nghiên cứu hiến pháp và pháp luật Học viện Tư pháp thuộc Tòa án tối cao Nga, khuyến nghị một số cơ chế pháp lý để giải quyết tranh chấp tại Biển Đông, trong đó có việc đệ đơn lên Tòa án quốc tế Liên Hiệp Quốc, Tòa án công minh khu vực Asean, tòa án SCO…
Image copyright Reuters Image caption Chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI) của CSIS công bố hình ảnh chụp các đảo mà Trung Quốc đang cải tạo và cho biết một số vị trí có thể là radar tại khu vực Trường Sa
Bà cũng đề cập đến giải pháp pháp lý như việc các nước Asean đẩy nhanh tiến trình thông qua Bộ quy tắc ứng xử các bên tại Biển Đông và tiến xa hơn là Hiệp ước trung lập tại Biển Đông.

‘Ăn đất hàng xóm’

Tiến sỹ G.M. Lokshin, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và Asean, Viện Hàn lâm khoa học Nga, phê phán Trung Quốc sử dụng những biện pháp thô bạo chống lại ngư dân Việt Nam, cũng như việc một loạt lãnh đạo Trung Quốc, nhất là giới quân sự đã có những tuyên bố thù địch đăng tải trên các phương tiện truyền thông.
Ông khẳng định: “Điều này đe dọa đến ổn định chính trị tại Việt Nam, đất nước có sự ổn định chính trị cao nhất Đông Nam Á”.
Tiến sỹ M.E. Trigubenko, Chuyên viên cao cấp thuộc Trung tâm chiến lược Nga tại Châu Á, Viện Hàn lâm khoa học Nga, cho hay: “Việc Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ tại Biển Đông là chiến thuật truyền thống của Trung Quốc, như một câu ngạn ngữ của chính Trung Quốc là: “Ăn đất hàng xóm như tằm ăn dâu”.
Bà vạch trần việc Trung Quốc tiếp tục khiêu khích Việt Nam trên Biển Đông khi thực hiện chuyến bay thử nghiệm trái phép đến một sân bay trên Đá Chữ Thập, đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây dựng phi pháp tại đây.
Tiến sỹ V. Mosyakov, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Phương Đông, Viện Hàn lâm khoa học Nga, nói: “Đã có sự lừa dối và phóng đại nghiêm trọng từ người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh khi tuyên bố rằng Trung Quốc xây dựng những đảo nhân tạo trên Biển Đông là trong giới hạn chủ quyền của nước này”.
Ông chỉ ra rằng Trung Quốc đã không tôn trọng và không thực hiện những thỏa thuận song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam. Ví dụ như thỏa thuận không bên nào được có những hành động có thể dẫn đến phức tạp thêm tình hình, không tham gia đối thoại trước với bên thứ ba…
Tác giả A. Svetov, Chuyên gia phụ trách quan hệ với các tổ chức của chính phủ và truyền thông thuộc Hội đồng Nga, khuyến nghị “Việt Nam cần tăng cái giá phải trả cho kẻ xâm lược”.

 

Japan's Master Plan to Destroy the Chinese Navy in Battle

January 1, 2016

 

Printer-friendly version

It seems that Japan is developing plans to craft its own Anti-Access/Area-Denial (A2/AD) strategy—or what one former Japanese official describes as “maritime supremacy and air superiority”—against the Chinese Navy.
The plan itself, detailed by Reuters, makes a tremendous amount of good sense:
“Tokyo is responding by stringing a line of anti-ship, anti-aircraft missile batteries along 200 islands in the East China Sea stretching 1,400 km (870 miles) from the country's mainland toward Taiwan. . .
“While the installations are not secret, it is the first time such officials have spelled out that the deployment will help keep China at bay in the Western Pacific and amounts to a Japanese version of the "anti-access/area denial" doctrine, known as "A2/AD" in military jargon, that China is using to try to push the United States and its allies out of the region.
“Chinese ships sailing from their eastern seaboard must pass through this seamless barrier of Japanese missile batteries to reach the Western Pacific, access to which is vital to Beijing both as a supply line to the rest of the world's oceans and for the projection of its naval power.”
The piece also spells out an overall larger Japanese military presence in the East China Sea, which will certainly not please China:
“Over the next five years, Japan will increase its Self-Defense Forces on islands in the East China Sea by about a fifth to almost 10,000 personnel.
"Those troops, manning missile batteries and radar stations, will be backed up by marine units on the mainland, stealthy submarines, F-35 warplanes, amphibious fighting vehicles, aircraft carriers as big as World War Two flat-tops and ultimately the U.S. Seventh Fleet headquartered at Yokosuka, south of Tokyo.”
Does this plan sound familiar? It should if you have been following the topic. Such ideas have been floated in the U.S. national security community for a few years now. Toshi Yoshihara, a past National Interest contributor and professor at the U.S. Naval War College, who is also quoted in the Reuters piece, presented a similar idea as part of a much larger Japanese A2/AD strategy in a Center for New American Security (CNAS) report back in 2014:
“the Ryukyu Islands themselves could support Japanese anti-access forces. For example, truck-mounted anti-ship and anti-air missile units dispersed across the archipelago would erect a formidable barrier. In wartime, effective blocking operations would tempt PLA commanders to nullify these gatekeepers. Such exertions, however, would tie down significant portions of China’s warfighting capacity while depleting manpower and materiel. Because the islands hold little innate value to Beijing the Chinese leadership might decide that escalation was not worth the effort.”
He also explains that China could not easily destroy the missiles:
“Any attempt to eliminate the Japanese ASCM threat would require the PLA to open a geographic front about 600 miles wide. A Chinese suppression campaign involving air power and ballistic- and cruise-missile strikes would accelerate the rate at which the PLA consumed finite stocks of munitions, airframes and airmen. The result would likely prove disappointing, similar to coalition forces’ fruitless 'Scud hunt' during the 1990-91 war against Iraq. Amphibious assault, the surest way to dislodge the island defenders, would also represent the riskiest way, with Japanese and U.S. forces playing havoc with landing forces."
Yoshihara continues, spelling out the clear benefits to Japan:
“Abundant, survivable, inexpensive weaponry such as the Type 88, the Type 12 and other mobile air-defense units could coax China into exhausting more costly and scarce offensive weapons for meager territorial gain and uncertain prospects of a breakthrough into Pacific waters. Relatively modest investments in such forces could spread Chinese forces thin—furnishing Japan much needed breathing space.
"Beyond the tactical benefits, strategic dividends would accrue to Japan. Possessing the option to surge anti-ship and anti-air missile units onto the Ryukyus at short notice would demonstrate Japanese resolve while substantially bolstering Tokyo’s capacity to act effectively in times of crisis. Japan’s blocking forces would presumably limit their lethal ranges to PLA units operating in the commons and over Japanese territory. Such geospatial restraint would reduce the likelihood of escalation and dovetails with Tokyo’s defensively oriented posture, bolstering its diplomatic narrative on the world stage.”
Japan’s plan to bolster its defenses and limit the freedom of action of the Chinese Navy and possibly air assets is a smart play. However, Tokyo must also work to counter what might be an even more pressing challenge: Beijing’s increasingly large and advanced missile platforms that could target Japanese and allied bases. Yoshihara, as part of his CNAS paper, spells out a number of smart ways to do this. As I love to say, read the whole report—it seems likely the Japanese government did.  

 

So sánh hai cuộc hải chiến với Trung cộng: 1974 and 1988.

Năm 1958, Phạm văn Đồng theo lệnh của Hồ chí Minh ký kết nhìn nhận chủ quyền của Trung cộng (TC) trên biển đông. Đây là 1 tài liệu bán nước của VC mà chúng ta tìm thấy được (xem văn bản).

Vào năm 1974, lợi dụng cơ hội Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam, hải quân Trung cộng tiến chiếm Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Hải quân VNCH chống trả mãnh liệt và đã bị thiệt hại nặng nề với 74 chiến sĩ hải quân hy sinh. Hải quân Trung cộng cũng bị thiệt hại nặng nề, trong khi bọn Việt cộng (VC) bán nước im lặng đứng nhìn.

Vào năm 1988, hải quân Trung cộng tiến đánh Trường Sa lúc đó thuộc về Việt cộng. Hải quân VC bị bắn giết tàn nhẫn, chết tổng cộng 64 người. Trung cộng không bị thiệt hại vì gần như gần như không có chống trả.

Chúng ta thử phân tích chi tiết của 2 cuộc hải chiến nói trên:

++++++++++++++++++++

Cuộc hải chiến giữa VNCH với Trung cộng 1974:


Tài liệu:
http://www.vietlist.us/VietHistory/haichienhoangsa.shtml
http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/hoangsa_hovankythoai.htm

Lúc đó, năm 1974, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là Tư Lệnh Hải Quân vùng I Duyên Hải, chịu trách nhiệm bảo vệ vùng duyên hải của Quân khu I, bao gồm quần đảo Hoàng Sa. Cựu Phó Đề Đốc HVK Thoại đã nhận báo cáo tình hình có thuyền bè Trung Cộng xuất hiện ở vùng đảo này từ đầu và đã trực tiếp trình lên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Chính Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là người trực tiếp nhận thủ bút từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh đối phó với tình trạng xâm nhập bất hợp pháp của Trung Cộng và cũng chính Cựu Phó Đế Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ra lệnh cho Cựu Đại Tá Hà Văn Ngạc, Sĩ quan Chỉ huy chiến thuật khai hỏa trong trận Hải chiến Hoàng Sa.

Theo Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: "Trên đảo không có dân cư sinh sống, chỉ có đài khí tượng quốc tế với bốn nhân viên làm việc. Hai mươi bốn Địa Phương Quân thuộc tỉnh Quảng Nam trú đóng trên bốn đảo, họ di chuyển bằng xuồng cao su. Theo tôi biết thì trước năm 1974 không có sự đụng chạm nào đáng kể với Trung Cộng. Đến đầu năm 1974 Trung Cộng thấy Mỹ rút quân ra khỏi Miền Nam thì họ có kế hoạch xâm chiếm rõ ràng, như cấm cờ hay ồ ạt đổ bộ một số người lên đảo. Khi chúng ta bắt đầu dùng biện pháp đối phó thì họ đưa hạm đội rất mạnh mẽ ra đây... Lúc đó tôi đang ở Đà Nẳng. Trước khi khai hỏa , Cựu Đại Tá Hà Văn Ngạc cũng đã trình cho tôi rất chi tiết mọi hành động, mọi sự di chuyển của chiến hạm Trung Cộng cũng như của các ngư thuyền cùng mọi chuyện xảy ra trên đảo. Tôi đã ra lệnh mỗi chiến hạm cho một toán đổ bộ lên đảo để thám sát, cho nên chúng tôi nắm rất vững tình hình. Trước khi khai hỏa thì Đại Tá Ngạc có nói với tôi rằng, sự khiêu khích đã đến cái độ thế nào rồi cũng phải nổ súng. Nếu để Trung Cộng nổ súng trước thì bên HQVN sẽ bị thiệt hại nặng nề vì chiến hạm của họ rất tối tân, trong lúc chiến hạm của HQVN to và chậm, lúc đó sẽ không xoay xở kịp. Đại Tá Ngạc có bàn với tôi và tôi đồng ý là khi tình hình không thể nào làm khác được thì chúng ta phải nổ súng trước, và chúng ta nổ súng đồng loạt thì địch phải phân tán hải pháo của họ ra".

Ngày 19 Tháng Giêng, 1974, biệt hải và hải kích Việt Nam Cộng Hòa từ HQ5 đổ quân lên mặt Nam đảo Quang Hòa và hải quân Trung Quốc đổ quân xuống mặt Bắc đảo. Hai bên giao tranh và phía Việt Nam Cộng Hòa có 3 chết và 2 bị thương. Do quân Trung Quốc quá đông, quân Việt Nam Cộng Hòa rút trở lên HQ5.

Ngay sau đó chiến hạm hai bên triển khai đội hình gần đảo Quang Hòa và chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa khai hỏa trước. Hai bên chạm súng từ 30 đến 45 phút. Trong trận chiến nầy, Hải quân VNCH đã gây thiệt hại nặng nề cho hạm đội Trung Quốc, nhưng ngược lại, hạm đội Trung Quốc cũng gây thiệt hại không ít cho Hải Quân VNCH. Chiếc tàu bị thiệt hại nặng nhất về phía chúng ta là Hộ tống hạm HQ10 do thiếu tá Ngụy Văn Thà chỉ huy.

Hộ tống hạm HQ10 bị trúng đạn ở phòng máy chánh và bị nghiêng về bên phải. Phòng chỉ huy cũng bị trúng đạn. Cả chỉ huy trưởng cùng chỉ huy phó đều bị thương. Biết tình trạng chiếc tàu không thể cứu vãn, chỉ huy trưởng Ngụy Văn Thà ra lệnh cho chỉ huy phó Nguyễn Thành Trí và thủy thủ đoàn còn lại phải đào thoát. Toàn bộ thủy thủ đoàn yêu cầu chỉ huy trưởng cùng rời tàu luôn, nhưng Ngụy Văn Thà từ chối ông cương quyết ở lại chết theo tàu. Nguyễn Thành Trí xin ở lại với chỉ huy trưởng, cũng không được chấp thuận. Ngụy Văn Thà ở lại biển Ðông, hy sinh thân mạng đền nợ nước, là một anh hùng dân tộc, tiếp nối truyền thống hào hùng của Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản...
Hai Chien 1974

Kết quả

Theo tài liệu của Việt Nam Cộng Hòa thì phía Trung Cộng Liệp Tiềm Ðĩnh 274 trúng đạn, tay lái bất khiển dụng phải ủi vào bãi san hô để thủy thủ đoàn đào thoát, Liệp Tiềm Ðĩnh 271 và 389 bị chìm tại trận. Liệp Tiềm Ðĩnh 389 và 391 bị hư hại nặng.

Phía Việt Nam Cộng Hòa chiến hạm HQ10 trúng đạn vào pháo tháp bị chìm tại trận, chiến hạm HQ-16 bị hư hại nặng nghiêng 15 độ, chiến hạm HQ5 và HQ4 bị hư nhẹ. Gần 50 thủy thủ và hạm trưởng Ngụy Văn Thà của HQ10 tử vong. Ngoài ra HQ5 có 3 quân nhân tử vong và 16 bị thương.

Hai ngày sau trận hải chiến, ngày 20 Tháng Giêng, tàu chở dầu Hòa Lan “Kopionella” vớt được 23 người thuộc thủy thủ đoàn của chiến hạm HQ10 đang trôi dạt trên biển.

Ðến mười ngày sau, ngày 29 Tháng Giêng, ngư dân Việt Nam vớt được một toán quân nhân Việt Nam Cộng Hòa gần Mũi Yến (Qui Nhơn), gồm 1 sĩ quan, 2 hạ sĩ quan và 12 quân nhân thuộc lực lượng đổ bộ lên Quang Hòa, đã dùng bè vượt thoát đảo sau trận hải chiến.

Trung Quốc bắt giữ 48 tù binh, trong đó có một người Mỹ. Số tù binh đó sau này được trao trả tại Hồng Kông qua Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế.

Sau trận chiến, Việt Nam Cộng Hòa đã ra nhiều tuyên bố cũng như trưng ra các chứng cớ lịch sử về chủ quyền của mình và đã được chính phủ Cộng Hòa Pháp ủng hộ vì trước đây theo hòa ước Pháp-Thanh thì người Pháp đã thực hiện chủ quyền ở quần đảo này.

Tuy nhiên, Trung Quốc đã cho đập phá các bia chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, đào các mộ của người Việt đã chôn ở đây, xóa các di tích lịch sử của người Việt để áp đặt chủ quyền của họ trên quần đảo này.

+++++++++++++++++++++++++++

Cuộc hải chiến giữa Hải quân VC với Trung cộng 1988:

Tài liệu:

http://nguyentandung.org/hai-chien-truong-sa-1988-ky-1-cuoc-xam-luoc-cua-trung-quoc.html
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-22-hai-chien-1988-bat-tu-tren-dao-gac-ma-ky-2-
http://www.youtube.com/watch?v=Ymjjb9Db1Z8
http://www.youtube.com/watch?v=adVFnR43vqU
http://www.youtube.com/watch?v=YFxLeNVLRoM

Theo bài viết đăng trên website nguyentandung.org, phóng viên phỏng vấn anh Dương Văn Dũng và anh Phan Văn Đức đã từng chiến đấu ở Gạc Ma năm 1988. Họ nhập ngũ cùng thời gian. Sau 6 tháng huấn luyện ở Hội An, họ được giao về Trung đoàn 83 công binh (Vùng 3 Hải quân) đóng tại Q.Sơn Trà, TP.Đà Nẵng.

Anh Dũng kể, 20h ngày 11/3, anh cùng mọi người lên tàu HQ-604 của Lữ đoàn 125 do Vũ Phi Trừ làm thuyền trưởng, đưa 70 công binh Trung đoàn 83 và 22 chiến sĩ Lữ đoàn 146 rời Cam Ranh. Khoảng 15h ngày 13/3, tàu đến đảo Gạc Ma và tiến hành làm dây, hạ xuồng, đưa vật liệu vô để chuẩn bị xây dựng. Thế nhưng chỉ khoảng 1 tiếng sau là tàu Trung Quốc liên tục đưa xuồng quần thảo cắt dây vận chuyển của tàu HQ-604, dùng loa yêu cầu tàu HQ-604 phải nhổ neo gấp bằng tiếng Việt.

Đến 21h cùng ngày, tàu HQ-604 khẩn trương thả xuồng nhôm để đưa người và vật liệu xuống bám giữ đảo Gạc Ma và quyết làm nhà trên đó. Lúc 3h sáng ngày 14/3/1988, các chiến sĩ đã cắm được cờ Tổ quốc lên bãi đá Gạc Ma.

Anh Đức kể, đến 4h sáng, khi mặt trời lên anh Đức đã cùng khoảng 20-30 chiến sĩ bơi vô đảo nhưng chỉ mang theo 2 khẩu súng AK-47. Hai khẩu súng này giấu rất kỹ, không để phía Trung Quốc phát hiện vì mục đích của phe ta là vừa phòng vệ nhưng vẫn giữ hòa khí...

Không khí lúc đó hết sức căng thẳng.
Hai Chien 1988

“Phía bên ngoài, Trung Quốc bao vây quá đông, lúc đó chúng tôi chỉ mặc quần đùi, áo may ô. Thiếu úy Trần Văn Phương, Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma, cắm cờ Tổ quốc giữ đảo rồi bất ngờ bị phía Trung Quốc bắn chết. Ngay lúc ấy, anh Nguyễn Văn Lanh liền nhảy lên gạt súng, xô ngã tên bắn anh Phương nhưng chính anh đã bị tên khác đâm lê vào sau lưng. Lúc đó chúng tôi chỉ dùng tay không đánh nhau với địch vì ai cũng nghĩ mất cờ là mất đảo”, anh Đức thuật lại.

Lúc ấy, tôi hỏi anh em là 2 cây súng AK đâu rồi, thì được biết là mọi người đã dụi xuống biển trước đó để tránh bị hiểu lầm. Lúc đó tôi nghĩ mình chỉ cần 1 cây súng thôi thì ít nhất cũng bắn được trên chục mạng vì lính Trung Quốc đứng rất đông”, anh Đức sục sôi.

Khoảnh khắc ấy không bao giờ phai mờ trong tâm trí của anh Đức: “Trước thái độ cương quyết giữ đảo của phe ta trên bãi đá Gạc Ma, phía Trung Quốc bất ngờ bắn một loạt đạn dày đặc. Tôi nhớ đạn dày đến nỗi lúc đó chỉ có đạn tránh người thôi chứ người không thể tránh đạn. Tôi bị trúng đạn ở vai trái ngã xuống nước, khi trồi lên tôi bơi về phía tàu HQ-604. Khi gần đến tàu, tôi thấy tàu Trung Quốc bắn liền 2 quả, 1 quả chớp đỏ nổ cabin tàu HQ-604, quả còn lại làm tàu lật luôn”.

Hai Chien 1988
Cùng đường, anh Đức ôm một cây gỗ bơi lại vào bãi đá thì được đồng đội dùng xuồng vớt lên và đưa về đảo Sinh Tồn.

Còn về phần anh Dũng, tàu HQ-604 bị bắn chìm khi anh ở trong bệ cẩu nằm giữa tàu. Ngoi lên mặt nước thì tàu bị đạn địch bắn rất rát. Anh ngoi lên hụp xuống vài lần thì vớ được một thùng gỗ chứa lương khô và bơi ra xa.

Hai Chien 1988
Lần lượt anh với tìm được 2 cây gỗ, cùng 2 đồng đội khác ghép ván tạo thành bè rồi cả 3 người ngồi lên trên. Họ trôi dạt đến 18h cùng ngày thì bị tàu Trung Quốc bắt giữ, cùng với 6 đồng đội khác bị đưa về Quảng Đông.

Bị tổn thất và hy sinh nhưng bộ đội ta với tinh thần kiên cường, kiên quyết đấu tranh bảo vệ giữ vững chủ quyền đảo Cô Lin và Len Đao...

Bài tường thuật khác có tên "Hải chiến 1988: bất tử trên đảo Gạc Ma (KỲ 2)" viết:

Sáng ngày 14, Trung Quốc đưa 5 xuồng nhôm cùng vài chục lính thủy, dương AK lưỡi lê quây vòng tròn tiến lên đảo.

Những chiến sĩ trên đảo lùi dần về phía lá cờ, tạo thành ‘vòng tròn bất tử’. Anh Lê Thanh Miễn có mặt trong nhóm chiến sĩ đó. Anh chứng kiến thiếu úy Trần Văn Phương trúng đạn đầu tiên và gục xuống. Lá cờ được chuyển sang cho anh Nguyễn Văn Lanh. Hai lính Trung Quốc áp sát anh Lanh giành giật. Cán cờ bị văng mất, anh Lanh cuốn lá cờ vào ngực và đạp vào bụng hắn. Lính Trung Quốc đâm bằng lưỡi lê, báng súng vào anh Lanh nhưng anh vẫn kiên quyết giữ cờ.

Anh Lê Văn Dũng lúc đó vừa chở được một xuồng vật liệu vào, đang định bơi ra tàu thì gặp lúc lính Trung Quốc tấn công phải lui trở lại. Trong thời điểm anh Phương và anh Lanh giành giật lá cờ với lính Trung Quốc, anh Dũng và anh Miễn cũng đang chiến đấu với những lính Trung Quốc khác, chỉ cách chỗ thiếu úy Phương hy sinh vài mét.

Hai Chien 1988
Trong trận chiến không cân sức, như anh Dũng nói, giữa nhóm chiến sĩ mặc độc quần đùi áo may ô đánh giáp lá cà với hàng loạt lính mang súng AK lưỡi lê, ‘như trẻ con chơi vật nhau’. Sau trận giáp lá cà, quân Trung Quốc rút lui về tàu rồi dập pháo vào đảo Gạc Ma và tàu HQ-604, thảm sát gần như toàn bộ các chiến sĩ trên đảo và tàu.

Hai Chien 1988
Trong lúc tàu HQ-604 và đảo Gạc Ma bị tấn công dữ dội thì bên đảo Len Đao và Cô Lin, tàu HQ-605 và HQ-505 cũng đồng thời bị bắn. Khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ cho tàu lùi ra lấy đà và ủi lên đảo Cô Lin. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy. Thủy thủ tàu vừa dập lửa vừa đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu HQ-604.
Nhưng ngay khi hai tàu Việt Nam đã bị bắn chìm và cháy (tàu HQ-605 bị bắn bên phía đảo Len Đao, sáng hôm sau 15/7 chìm). Người thương vong quá nhiều, phía Trung Quốc vẫn cho 3 tàu chiến ngáng chặn, không cho tàu Việt Nam và tàu Hội Chữ Thập Đỏ vào ứng cứu. Chiến sĩ hải quân Việt Nam, người gắng gượng bơi được vào bãi đá Cô Lin, người bị thương nằm trên xuồng, thậm chí trên lưng đồng đội. Người ôm những mảnh tàu vỡ lênh đênh trên mặt biển nhiều tiếng liền...

++++++++++++++++++++++++++++++

So sánh 2 cuộc hải chiến:



- Cuộc hải chiến 1974: Lịnh chỉ huy thống nhất từ cấp Tổng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia (Tổng thống) đến cấp chỉ huy Tư Lệnh Hải Quân vùng I Duyên Hải ra lệnh đối phó với tình trạng xâm nhập bất hợp pháp của Trung Cộng. Khi tình hình không thể nào làm khác được thì chúng ta phải nổ súng trước tiêu diệt địch. Và kết quả cũng rất rõ ràng, với vũ lực kém hơn, các anh đã gây thiệt hại nặng nề cho kẻ thù. Tinh thần chiến đấu, tinh thần hy sinh, tinh thần yêu mến đồng đội cũng thể hiện rất rõ ràng, cao độ. Nhất là sự hy sinh của thuyền trưởng Ngụy Văn Thà rất đáng ghi vào sử sách, lưu danh thiên cổ.

- Cuộc hải chiến 1988: Không thấy một lịnh chiến đấu nào cho hải quân VC được nêu ra. Dù là vào thời điểm 1988, 9 năm sau cuộc tấn công hàng loạt của TC vào miền Bắc năm 1979 giết hại hàng vạn dân Việt, chúng ta thấy hải quân không có chuẩn bị, không sẵn sàng chiến đấu. Trong các bài viết, chỉ thấy nói công binh và 3 tàu hải quân HQ505, HQ604, HQ605 được điều ra đảo, nhưng không nói lịnh từ đâu, cấp nào, trách nhiệm thuộc về ai ! Đảng CS Việt nam tự cho là đảng lãnh đạo, sao không thấy nhắc tới trong trường hợp nầy ? Chúng ta thấy VC đưa công binh ra xây dựng nhà trên đảo nhưng không tìm thấy sự hổ trợ tích cực nào của hải quân. Trong 2 bài viết, không thấy các chiến hạm của VC bắn 1 viên đạn nào, chỉ chờ cho tàu TC bắn, rồi chìm, thế thôi.

Hai Chien 1988
- Cuộc hải chiến 1974: Hải quân VNCH sẳn sàng chiến đấu, biết phân tích tình hình tương quan lực lượng địch ta và biết rõ họ phải làm gì khi đương đầu với đối phương đang có lực lượng mạnh hơn. Dù phải hy sinh, nhưng hải quân VNCH vẫn gây tổn thất nặng nề cho địch.

- Cuộc hải chiến 1988: Chúng ta chỉ thấy bộ đội VC phản kháng yếu ớt như trẻ con, như những cái bia thịt cho Trung cộng bắn vào. Trên hòn đảo chủ quyền của VN, vào thời điểm 1988 mà hải quân ăn mặc chỉ có "mặc độc quần đùi áo may ô". Khi lên đảo chỉ dám mang theo 2 cây súng AK thì lại dấu biến đi. Chiến hạm HQ505, HQ604, HQ605 đậu ngoài dàn trận thì không thấy nói là bắn 1 quả đạn nào. Theo video của TC cung cấp thì lính công binh của hải quân VC đang xếp hàng ngang ngay ngắn trước tầm súng đại liên của địch để cho địch tha hồ nả đạn như đang tập trận. Theo hình ảnh trên video, chiến hạm HQ 604 từ lúc bị bắn tới khi chìm không thấy bắn 1 viên đạn nào. Trong 2 bài viết, ba chiến hạm trên đều bị bắn và có 2 chiếc bị chìm, HQ604 và HQ605. Tại sao không có 1 chiếc nào khai hỏa. Tại sao tàu hải quân bị tấn công đến chìm mà không có 1 sự phản kháng yếu ớt nào cả?

Hai Chien 1988
Kết luận

Qua những tài liệu và nhận định nêu trên chúng tôi thấy ý nghĩa của hai cuộc hải chiến hoàn toàn khác nhau. Một đằng các chiến sĩ hải quân VNCH tinh nhuệ và anh dũng chiến đấu bảo vệ đất nước. Dù các anh phải hy sinh, nhưng vẫn gây tổn thất nặng nề cho kẻ thù. Một đằng bộ đội VC rất mơ hồ khi ra trận, họ hoàn toàn không sẵn sàng chiến đấu. Họ chỉ làm bia cho địch bắn và không thấy nói gây thiệt hại gì cho quân địch.

Chúng tôi nghĩ rằng bộ đội VC dù có dở đi nữa cũng không tồi tệ đến thế. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng chính do sự tuyên truyền của các tên chỉ huy cấp cao bán nước lúc nào cũng coi TC là đàn anh, là đồng chí kính yêu, mà các bài viết không dám nêu ra ở đây. Điều đó làm cho bộ đội VC không dám phản kháng, không dám chuẩn bị khi đứng trước kẻ thù cướp nước. Sự việc nguy hiểm nầy vẫn còn xảy ra cho đến ngày hôm nay. Tàu TC liên tục bắn giết ngư dân VN, nhưng VC không dám lên tiếng phản đối. Tệ hơn nữa, chúng không dám nói rõ ai là thủ phạm, chỉ dám gọi mơ hồ là "tàu lạ", "quân đội lạ"... Ai biểu tình phản đối TC chiếm nước thì họ lại thẳng tay đàn áp, bắt bớ, đánh đập như kẻ thù. Tại sao đối với kẻ thù cướp nước là Trung cộng thì VC lại quá dễ dãi, tâng bốc như anh em ruột thịt. Trong khi đối với nhân dân VN thì VC lại đối xử ác độc, lúc nào cũng dùng công an, bộ đội với đủ mánh khóe để đàn áp, bắt bớ, cướp của, giết người. Đảng CSVN đứng ở vị trí nào trong đất nước Việt nam?

Nhiều người đề nghị vinh danh binh sĩ trong 2 trận chiến vì họ đều tử thương trước họng súng của TC. Nhưng sau khi xem xét các lịnh chỉ huy, cách tổ chức, chuẩn bị, diễn tiến trận đánh và kết quả của trận đánh, cá nhân chúng tôi không tìm thấy sự tương đương nào giữa bộ đội VC và chiến sĩ hải quân VNCH.

Trần Long, Vietlist.us
__._,_.___

 

 

 28/10/13 | Tác giả: Bùi Tín

Tuyên chiến với dân tộc

 
Lễ khai mạc Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 tại Hà Nội, ngày 21/10/2013. Ảnh Thanh Niên
Lễ khai mạc Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 tại Hà Nội, ngày 21/10/2013. Ảnh Thanh Niên
Quốc hội Việt Nam đang họp một phiên họp được coi là dài nhất – 33 ngày – và quan trọng bậc nhất, vì sẽ thông qua bản Hiến pháp mới và Luật đất đai (sửa đổi), hàng chục năm mới có một lần.
Xem ra Bộ Chính trị Trung ương đảng CS và Ban Thường vụ Quốc hội quyết tâm thúc ép gần 500 đại biểu Quốc hội thông qua với tỷ lệ cao các văn kiện cơ bản trên đây, sau khi Ban Chấp hành Trung ương đảng (Khóa XI) vừa họp lần thứ 8 đã thông qua một cách khá là trôi chảy, dễ dàng. Họ vẫn quen một lỗi nghĩ đơn giản, coi ý đảng là ý trời. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng công khai nói rõ Hiến pháp mới được dự thảo là văn kiện bám chặt theo cương lĩnh của đảng CS đã được Đại hội đảng XI vạch rõ thêm. Có nghĩa là đảng đứng trên nhân dân, quyền lực đất nước này trước hết nằm trong tay đảng CS. Điều đó cũng có nghĩa là Tổng bí thư ra lệnh cho tuyệt đại đa số đảng viên CS trong gần 500 đại biểu Quốc hội – chiếm hơn 90 % đại biểu – phải bỏ phiếu thông qua các văn kiện sẽ được đưa ra, theo  đúng kỷ luật của đảng, không được thắc mắc, trì hoãn, đặt lại vấn đề gì nữa hết.
Nếp nghĩ của Bộ Chính trị rất dễ hiểu. Vì xưa nay Quốc hội đã có bao giờ dám bác bỏ những văn kiện cơ bản do đảng đưa ra. Cái điều khoản trong Hiến pháp coi Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất chỉ là một vòng trang sức hào nhoáng tròng vào cổ các đại biểu. Chuyện Quốc hội từng trì hoãn chủ trương làm xe lửa cao tốc đã được dự định chỉ là một chi tiết nhỏ, một trục trặc tạm thời.
Trong Bộ Chính trị, trong Ban Chấp hành Trung ương, có ai lo ngại rằng việc thông qua Hiến pháp mới và Luật đất đai (sửa đổi) kỳ này sẽ gặp trở ngại, khó khăn, hay vấp váp không? Không, họ đầy tự tin. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng còn nói rõ là 2 văn kiện này đã được Ban Thường trực Quốc hội hoàn thiện sau khi đã tiếp nhận hơn 20 triệu ý kiến đóng góp của công dân cả nước, do đó không thể thảo luận kéo dài thêm nữa.
Tôi vừa đọc lại toàn «Bản dự thảo Hiến pháp cuối cùng đã được hoàn thiện» được phổ biến trong Quốc hội, tôi không khỏi giật mình, kinh hãi về thái độ tự tin thái quá của Bộ Chính trị, về thái độ khinh thường dân chúng, khinh miệt trí thức của nhóm lãnh đạo cao nhất của đảng CS, về thái độ mù quáng đến liều lĩnh của họ. Tôi băn khoăn tự hỏi, họ mê hay tỉnh? Họ khôn hay dại?
Mù quáng, liều lĩnh, Bộ Chính trị và Ban Thường trực Quốc hội vẫn cho ghi nhiều lần «chủ nghĩa Mác – Lênin » vào Hiến pháp mới, vẫn giữ «điều 4» về vai trò lãnh đạo toàn trị  của đảng Cộng sản, vẫn «quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội», vẫn «lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo cho nền kinh tế», và vẫn coi «đất đai và mọi tài nguyên là thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý». Đây chính là 5 điều phi lý, mơ hồ, sai lầm tệ hại nhất, rõ ràng nhất, 5 xiềng xích giam hãm xã hội ta trong thân phận nô lệ, 5 cản trở đất nước ta phát triển và hôi nhập với thế giới văn minh.
Đó chính là thông điệp cô đọng của 14.785 công dân, đa số là trí thức có trí tuệ và tâm huyết, tinh hoa của dân tộc, công khai, minh bạch bác bỏ cả 5 điều phi lý trên đây với lập luận chặt chẽ, đầy tính thuyết phục, liên quan trực tiếp đến bản dự thảo Hiến pháp mới và Luật đất đai (sửa đổi) trong bản kiến nghị công khai được giao tận tay ban biên tập Dự thảo.
Ban Tuyên huấn Trung ương đã huy động hàng mấy chục tuyên truyền viên nói theo công thức giáo điều, nói lấy được, nhưng không có một ai bác bỏ được lập luận của tập thể trí thức trên đây, chỉ phơi bầy sự nghèo nàn về lý lẽ, sự xa rời thực tế và căn bệnh tối tăm về kiến thức khi họ bị lòng tham và quyền lực khống chế.
Dứt khoát việc thông qua dự thảo Hiến pháp mới và Luật đất đai (sửa đổi) sẽ không thuận buồm xuôi gió, trái lại nó sẽ vấp phải sự phủ định mạnh mẽ của toàn xã hội do một tập thể trí thức tự tin, gan góc dẫn đầu một cách không thể khoan nhượng nữa. Bởi vì Bộ Chính trị và Ban Thường trực Quốc hội đã hoàn toàn đuối lý về cả 5 vấn đề then chốt trên đây, đã quá chủ quan, tin theo nền nếp cũ, đã dám khiêu khích lương tri dân tộc, dám thách đố sự thật và lẽ phải, dám ngang nhiên nhắm mắt trước yêu cầu cấp bách của toàn dân là phải đổi mới hệ thống chính trị theo hướng từ bỏ độc đoán, chuyên quyền, xây dựng hệ thống dân chủ pháp trị đang thiếu vắng một cách tệ hại và nguy hiểm.
Trên thực tế, Bộ Chính trị và Ban Thường trực Quốc hội đã tuyên chiến với cả khối trí thức dân tộc đã thức tỉnh tự lãnh trách nhiệm lịch sử trước toàn dân, thúc đẩy đà chuyển biến đi lên của đất nước, nhằm hòa nhập với thế giới dân chủ văn minh. Điều họ không muốn nhận ra là khối trí thức – dân chủ rất trẻ về tư duy chính trị hiện không còn là đàn cừu để họ chăn dắt, dạy dỗ, dẫn đường nữa. Thế lực này luôn được bổ sung lực lượng trẻ khỏe về kiến thức, dồi dào về sáng kiến, gan góc khi dấn thân, xiết chặt hàng ngũ chiến hữu trong đấu tranh, có một dự án chính trị rất rõ ràng là: giữ trọn vẹn nền độc lập, chống bành trướng, thực hiện đầy đủ các quyền tự do của công dân, xây dựng xã hội dân sự năng động, trên nền tảng pháp luật công minh cho mọi người, từ bỏ dứt khoát, không thương tiếc chủ nghĩa Mác – Lênin cổ lỗ, chế độ CS không tưởng, chủ nghĩa xã hội mờ ảo, việc nuông chiều sở hữu quốc doanh hư hỏng.
Sự liên kết, liên minh giữa trí thức với nông dân và quần chúng các tôn giáo luôn đề cao thiện tâm chống cái ác bất kỳ từ đâu, sẽ làm cho cuộc đấu tranh thêm quyết liệt và sâu rộng.
Thêm nữa việc các học giả, trí thức, giáo sư, tiến sĩ, sinh viên ưu tú có mặt trong số 14.785 ngôi sao trí tuệ và tâm huyết dân tộc có thừa kiến thức khoa học, lập luận lô-gích biện chứng để đánh đổ và chôn vùi 5 cột trụ lý sự cùn thô vụng của giới cầm quyền hiện tại. Chênh lệch giữa 2 bên khác biệt hẳn nhau như ánh sáng và bóng tối, như ngày và đêm, như khoa học và tà giáo, như sự ngay thật với dối trá, như lòng yêu nước với dã tâm bán nước, như lòng xót xa thương dân với cú đạp giầy vào mặt dân vậy.
Nếu tổ chức tranh cãi công khai trước truyền hình trong nước, một em sinh viên trẻ như Huỳnh Thục Vy, Đỗ Thị Minh Hạnh hay Nguyễn Phương Uyên ở phía bên này có thể dễ dàng dồn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và cả Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đinh Thế Huynh ở phía cường quyền vào tình thế ấp úng, lúng túng, ngậm hột thị cho mà xem.
Thế lực cai trị đất nước ta đã phơi bày hết dã tâm của họ. Họ đã khinh miệt bác bỏ hết mọi ý kiến tâm huyết đầy trách nhiệm của của nhân dân, coi cả 14.785 công dân yêu nước chỉ bằng con số không, họ vẫn định ép gần trăm triệu dân ta phải nuốt 5 món ăn thiu thối chết người đã bị đông đảo loài người loại bỏ dứt khóat.
Tuy nhiên, thời kỳ tan rã của phong trào Cộng sản thực tiễn, giai đoạn mạt vận của học thuyết Mác – Lênin từng cổ súy bạo lực, chiến tranh, máu đổ đầu rơi, và tình trạng suy thoái toàn diện của đảng CS Việt Nam không có cách gì cứu vãn nổi.
Blog Bùi Tín (VOA)
 
 

 

Mỹ Yên, vùng đất chưa yên! 
 
 
 
Mỹ Yên,
Một vùng đất vẫn bình Yên
Một hôm giặc cộng đến,
Mỹ Yên thành vùng đất chẳng yên
 
 
Trong bài “Cồn Dầu, nắng mới vươn lên” vào tháng 10-11, tôi có viết là: GM Nguyễn thái Hợp đã không nhân danh GM Vinh, không nhân danh HĐGMVN. Nhưng nhân danh một người dân, là GM tại Vinh, là chủ tịch UBCL / HB trực thuộc HĐGMVN mà lên tiếng. Trong sự kiện lên tiếng, Ngài không có ý bênh vực cho giáo dân Cồn Dầu, nhưng là đặt ra vấn đề Công Lý xã hội với nhà nước trong việc hành xử trách nhiệm của họ với đồng bào Việt Nam, mà Cồn Dầu, chỉ là một thí dụ điển hình! Cũng như trước đó, khi giáo dân và TGM Hà Nội đi đòi lại Công Lý thì nào có phải là đi đòi đất, đòi Công Lý và Sự Thật về cho một cá nhân nào đâu. Có chăng là vì quyền sở hữu của người dân mà họ dấn thân!

Sụ việc hiển nhiên là thế. Văn thư chẳng có gì biểu tỏ cho mình. Trái lại, chỉ là những lý lẽ đoan chính như là một đề nghị, một ý kiến, gởi đến phía nhà lãnh đạo hơn là một bài trong giáo khoa thư. Thẳng thắn đề nghị chính quyền địa phương và Trung Ương, nên theo nguyên tắc hành xử trong nền Công Lý của Con Người trong các xã hội nhân bản, tiến bộ, để đem lại phúc lợi cho người dân. Bởi vì, nhà nước có được chính quyền trên cả nước hôm nay, dù chiếm bằng bạo lực hay bằng, “dân chủ kiểu áp đặt” của mình thì trong đó người dân Việt vẫn cần có quyền để sống và sống với phẩm giá làm người. Họ không phải là “tập đoàn” nô lệ. Nhưng là những con người, là những phần tử ưu tú Việt Nam! Chính nhà nước đã nhiều lần, ngay trong bản văn gọi là Hiến Pháp, cũng khẳng định nhân dân là những người làm chủ đất nước. Phần các cán bộ, đảng viên chỉ là những đầy tớ! Như thế, đã là thành phần của dân tộc, gánh chung một gánh giang sơn Việt Nam thì dù là quan, là quân hay dân đều phải tôn trọng quyền làm người và cuộc sống của nhau.
 
Điều ấy ai cũng biết. Bởi trong tương quan về nhân sinh, cổ ngữ cũng đã chỉ ra rằng “ Khi vua quan coi dân như cỏ rác, người dân sẽ coi vua quan như kẻ thù”(MT). Dĩ nhiên, không ai muốn tình trạng này xảy ra cho đất nước mình hay thời mình đang sống. Bởi đó là họa, không phải là phúc cho cả đôi bên. Theo đó, nếu vì an ninh, trật tự của đất nước. Nhà nước có nhu cầu thu hồi đất đai, là tài sản vốn thuộc về người dân theo truyền thống, theo luật định thì cũng phải ứng xử theo nhân cách làm người. Nó không thể là một thứ quy hoạch với phương cách chiếm đoạt hay bồi thường theo dạng bố thí trên mồ hôi, nước mắt và máu của đồng bào. Nó càng không thể là một cuộc diễn tập bằng súng đạn, xe kéo vá chó nghiệp vụ đến ủi bừa theo lệnh của nhà nước. Để một bên thì vênh vang trong chiến thắng hoành tráng, một bên thì mất nhà mất nghiệp, thậm chí vào tù! Trái lại, nó phải được đối thoại, đáp ứng với sự hài hòa của một nền công lý pháp trị.
 
Nhìn lại văn thư, cũng như trường hợp trước đó với TGM Kiệt, mọi người đều thấy là, văn thư, lời nói ấy như một khát vọng, khởi đi từ những tâm hồn lớn vì quê hương, vì đất nước và vì dân tộc của minh. Không một ai có thể nghi ngờ, hoặc phủ nhận về lòng trung trinh của các vị này trong việc họ muốn góp phần xây dựng, kiến tạo một đất nước, một xã hội phồn vinh trên nền tảng của công lý, của tự do, nhân quyền, ngõ hầu mang lại phúc lợi, no cơm ấm áo, tiến bộ cho người dân. Tiếc rằng, những thiện chí của họ, vẫn có những cái nhìn thiếu đứng đắn để đưa một số người đọc, người hữu trách đến những ý nghĩ thiển cận, xấu xa, tiềm ẩn trong bụng hay là lộ ra bên ngoài. Chà những “cái gai” này nhọn quá, để lâu sẽ đâm thủng cả tim gan của đảng mình đây!
 
 
 
Nay lại đến lá thư mang tính cảm nghiệm hay lời chứng của GM Oanh ở Kontum, viết gởi đến chính quyền Nghệ An, nhân vụ chính quyền sở tại vừa muốn chiếm đoạt tài sản của người, lại còn vu chụp cho các nạn nhân nhiều thứ “tội” khác. Nhà nước sẽ nghĩ gì, làm gì khi nhận được lá thư này? Phần cá nhân, tôi nhớ đến một câu chuyện trong Hán Sở tranh hùng. Đoạn nói về việc Hàn Tín, viên “chấp kích lang” nhận lệnh của Hạng Vũ đưa Hàn Sinh ra chợ, nấu vạc dầu vì cái tội dám trực ngôn để... can vua! Trên đường bị dẫn giải, Hàn Sinh không sợ hãi, còn bảo với những người đứng bên đường xem đoàn tù bị áp giải vào vạc dầu là: “Hỡi người Hàm Dương ta ơi, Ta vì trung với nước mà bị nấu dầu, chú xét chẳng có tội chi. Ta chắc không quá một trăm ngày nữa, quân Hán Vương sẽ ra đánh Tam Tần, lấy Hàm Dương, chừng ấy các người sẽ thấy chuyện loài khỉ đội mũ.”
 
Nghe thế, chẳng một ai trả lời, riêng quan chấp kích lang Hàn Tín trước khi hành hình Hàn Sinh đã bảo:
 
- Xin quan Gián Nghị chớ nói nữa. Ông bảo là bị chết oan ư? Nhưng theo tôi, Ngài có ba tội đáng chết! Tại sao ta lại có tội đáng chết? Hàn Tín trả lời:
 
- Thứ nhất. Ngài làm chức quan Gián Nghị, sao lúc giết tướng Tống Nghĩa, ông không can. Thứ hai, lúc chôn hai mươi vạn hàng binh sao ông không can. Lúc giết Tử Anh, đào mả Thủy Hoàng, đốt cung A phòng ông cũng không can. Nay bệnh trạng đã quá trầm trọng, dẫu trời cũng chẳng cứu được thì ông lại nhảy vào mà can!.
 
Lời luận tội nghe ra ê chề, đau đớn làm sao chứ! Kết quả, Hàn Sinh bị luộc trong chảo dầu, và quân Hán Vương thì sau đó một thời gian ra đánh lấy Tam Tần. Hạng Vũ đã không giữ được nghiệp mà còn mất mạng bên bờ sông Cai Hạ!
 
Trở lại chuyện nước ta. Chuyện cái “Gai Nhọn” ở Vinh, không phải đến hôm nay mới có! Nhưng từ khi nhà nước qua chuyến gọi là “đến thăm, hòa giải với Tổng Giám Mục Kiệt của TT Dũng” rồi lừa dối Ngài, nuốt trửng khu TKS, kế đến là chiếm gọn linh địa Thái Hà, phá Thánh Giá Đồng Chiêm, chiếm đoạt luôn đất đai của giáo xứ Tam Tòa, Loan Lý... Cồn Dâu. Sau đó, còn cho cánh báo chí, truyền thông, lên diễn đàn phỉ báng một chính nhân là Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt thì cái gai ở Vinh bắt đầu lộ diện. Từ kịch bản của tuyên giáo đảng CS - ở đâu cũng thấy đoàn sinh viên học sinh Công Giáo thuộc giáo phận Vinh xuất hiện, phản kháng nhà nước! Nay chuyện Thái Hà, mai chuyện Đồng Chiêm, mốt chuyện Tam Tòa. Đã thế, Tòa GM Xã Đoài còn vận động, đưa hàng chục ngàn người rầm rập kéo nhau về Xã Đoài mà lên án cái bạo lực của nhà nước dưới thời của GM Nguyễn Ngọc Thuyên! Còn “bao che” cho hàng chục sinh viên khác kéo nhau xuống đường, biểu tình chống nhà nước, lên án Tàu cộng xâm lăng nước ta, với mưu đồ phá hỏng tình hữu nghị đời đời giữa hai bên! Với những “tội riêng”, “tội chung” ấy, nhà nước có khi nào quên! Nhà nước không quên, nên chuyện xứ Mỹ Yên, yên thế nào được! Nói cách khác, cái gai ở Hà Nội, ở Vinh không thể để nó nhọn thêm. Trái lại phải tìm cách cắt bỏ nó đi.
 
Vì nhà nước CHXHCN/VC vốn đã có một ý đồ như thế. Nên không lạ gì việc họ cứ lần lượt, hết chỗ này, rồi đến chỗ khác, luôn theo vết dầu loang mà làm càn. Hết đất của tôn giáo ở nơi này, lại đến đất của tư nhân như ở nơi khác (như đầm tôm với Đoàn Văn Vươn hay ở Văn Giảng, Văn Điển). Bài bản “đánh” xem ra giống hệt nhau. Chẳng một nơi nào mà không có công an, xe ủi, chó nghiệp vụ. Những thứ này xem ra nhà nước nuôi nhiều, nếu không cho ăn, không cho tập dượt, chúng bị chồn chân! Kết quả, chuyện ủi càn, làm bừa là chân lý của nhà nước nên không bao giờ có thể ngừng lại, hay thay đổi được.
 
Chuyện nhà nước CS không thể dừng bạo lực và gian dối lại, thật ra không khó hiểu. Trước hết, đây là một trong những phương châm cơ bản của cộng sản là phải luôn tạo ra sự bất ổn, hoặc tạo ra chiến tranh. Khi không có chiến tranh để tạo ra những khẩu hiệu hỏa mù, lừa bịp. Họ bó buộc phải tự tạo ra những cuộc chiến cục bộ, dù là cuộc chiến cướp giật đất đai của người dân, phải luôn đẩy người dân vào thế bị động, bất ổn. Nhờ đó, cộng sản mới có cơ hội dùng bạo lực để tạo ra hoang mang, sợ hãi trong dân để nuôi sống chế độ. Kế đến, tiêu diệt tôn giáo luôn là một sách lược hàng đầu khác của cộng sản. Chừng nào các nhà thờ còn kinh lễ, còn các cố đạo rao giảng về đạo đức về luân lý, về niềm tin, về nhân bản xã hội thì ngày ấy sách lược gây hấn với nhà thờ này, hay nhà thờ khác vẫn được CS tiếp tục thi hành. Các chùa chiền, các nơi thờ phượng tôn nghiêm của các các tôn giáo khác cũng chung số phận. Nơi đâu có những nhà tu chân chính đem được niềm tin, gây được ảnh hưởng vào đời sống đạo nghĩa của xã hội, đối nghịch với nền “đạo đức” vô luân, vô đạo của Hồ chí Minh trong phương cách đối xử với đồng bào, với cha mẹ, với chính vợ con mình như HCM đã từng làm, là nơi đó bị dòm ngò, bị bóp nghẹt, bị triệt hạ.
 
Cs phương tây, tuy với chủ trương vô tôn giáo. Nhưng họ còn biết phân biệt lằn ranh giữa tôn giáo và chính trị. Theo đó, dù là Lê Nin, Stalin, hay những kẻ tôn thờ cộng sản điên cuồng, cũng không bao giờ toan tính tới việc đưa những thành phần này vào nhà thờ, vào các nơi thờ phượng nghiêm trang của tôn giáo. Nhưng một thứ cộng sản vay mượn, kiểu thiếu văn hóa như ở Việt Nam lại khác. Chúng không ngừng tìm phương cách để đem cái đầu lâu của Hồ Chí Minh lọt vào khu vực nhà thờ nhà chùa. Tại sao lại có sự kiện CS muốn đưa ác quỷ dựa hơi thần thánh?
 
Câu hỏi đã gói ghém nửa câu trả lời. Bởi cái bản chất của nó là tồi tệ, là xấu xa nên ai ai cũng phải xa lánh. Phần còn lại là, Trung cộng và có thể, một số chóp bu đời trước trong tập đoàn CS Việt Nam biết Hồ chí Minh không phải là Nguyễn Tất Thành, nhưng là Hồ Tập Chương, do Tàu xây dựng, tác tạo. Bởi bút tích của Hồ chí Minh vẫn còn đây. Vào tháng giêng 1949, trong tạp chí “ sinh hoạt nội bộ” Hồ chí Minh viết dưới bút hiệu Trần Thắng Lợi đã viết bài “đảng ta”. Sau này nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã đưa “đảng ta” của Hồ chí Minh vào trong “Hồ chí Minh toàn tập” tập 5, trang 547, có ghi rõ ràng như sau: “Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng. Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.. ”. “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi” ("Nguyễn Ái Quốc đồng chí hòa ngã" trong "Hồ Chí Minh sinh bình khảo"). (Hồ chí Minh: đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, Trần Việt Bắc). Tôi đây chính là Hồ tập Chương, là Hồ chí Minh sau này, là một trong tám ủy viên đầu tiên trong đại hội ở Hương Cảng. (chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau),
 
Vì Hồ chí Minh có một cái gốc như thế, nên CS, đặc biệt là Tàu cộng, không ngừng thúc đẩy CSVN phải biến HCM thành một nhân vật thần thánh của tôn giáo, và xây dựng cho Y thành một “cha già dân tộc” như cuốn sách của Trần Dân Tiên đạo diễn. Khi hai ngôi vị này đã yên, Hồ đã được vào các chùa, vào nhà thờ, dù chỉ là năm bảy nơi thôi, thì sẽ không còn một ai dám động đến Y, không còn một ai dám lên tiếng đòi Chôn Nó Đi nữa. Dĩ nhiên, xây dựng xong việc này thì Tàu đã là chủ thể của Việt Nam mà chả cần phải đanh đấm xâm lấn làm chi cho tốn hơi tốn sức. Hãy nhìn Việt Nam hôm nay, xem ra đã có câu trả lời. Với dáng cong lưng, quỳ không mỏi của tập đoàn cộng sản tại VN, con đường Tàu hóa đã đi được nửa vời. Người Hoa kiều tự do ra vào Việt Nam, tự do xây dựng làng mạc riêng, chợ búa, khu phố riêng mà chả có một tên cán cộng nào dám hé răng nói ra nửa lời. Nếu cứ thế mà đi, qua vài ba thế hệ nữa, Việt Nam còn không?
 
Tại sao lại đi như thế được? Tại vì đa phần dân ta nhắm mắt lại. Trong khi đó, cái hệ thống Tàu đã ăn chặt vào lòng tổ chức của đảng CSVN 80 năm qua. Ngậm miệng thì có quyền có lộc, há miệng ra thì chết. Kết quả là, từ trên xuống dưới đều phải thi hành chỉ đạo của Tàu. Vẽ, tạo cho HCM vai tuồng thần thánh. Coi tôn giáo là cái bình phong để bảo vệ nhà nước bằng cách “ quy hoạch” rồi đưa cái đầu lâu của Hồ Chí Minh vào nhà thờ, vào các chùa chiền, vào các nơi thờ phượng, nơi trang nghiêm mà thêm lộc. Chẳng một đảng viên nào dám đi ngược đường. Trừ khi là bỏ đảng cộng.
 
Với chủ trương trước sau như thế, nên không bao giờ CS ngừng lại việc gian dối và bạo hành. Bởi lẽ, nếu đất nước Việt Nam có cuộc sống của hòa bình, của yên ổn, của pháp trị, của công lý, giá trị nhân bản và luân lý của xã hội được tái tạo, Cộng sản tức khắc bị tiêu diệt. Đó cũng là lý do tại sao những lá thư bằng cả khát vọng của dân tộc kia, không có giá trị với cộng sản. Trái lại, nó như những cái gai, những chướng ngại trên con đường xây dựng chủ nghĩa gian dối, vô đạo. Họ phải nhổ đi.
 
 
Trở lại Mỹ Yên, lá thư của GM Oanh ở trên đỉnh cao nguyên Kontum gửi phó Chủ tịch tỉnh Nghệ An, nơi được nhà nước cộng sản ưu ái gọi là cái nôi đẻ ra chế độ cộng sản ở Việt Nam, ra sao? Mở đầu, ngài viết là “không ngỡ ngàng” mà thật ra, qua ba lần nhắc lại dòng chữ “không ngỡ ngàng” Ngài đã làm cho mọi người đọc, không phải chỉ ngỡ ngàng, nhưng còn là một bàng hoàng đáng quan ngại nữa! Ngài viết:
 
“Không ngỡ ngàng: vì chúng tôi đã theo dõi biên cố Mỹ Yên và gặp nhiều nhân chứng trong cuộc nhân dịp ra dự lễ tấn phong GM phụ tá hôm 4. 9. 2013. 
 
Không ngỡ ngàng, vì chúng tôi đã từng là nạn nhân của những vụ việc như Mỹ Yên như vụ nhà thơ Hiếu Đạo, vụ nhà thờ Ninh Đức... hay vụ Dak Pran, mãi tới nay vẫn chưa ổn. Chỗ nào, lúc nào cũng giống nhau; Phía chính quyền luôn tốt, luôn đúng. Còn dân thì “phạm đủ mọi thứ tội” như quấy rối, chống người thi hành công vụ, âm mưu lật đổ chính quyền...
 
Không ngỡ ngàng, nhưng rất cảm thông, vì ở vào cương vị phó chủ tịch tỉnh, cũng như các cộng sự viên trong chế độ hôm nay. Quý vị không thể nói khác, viết khác và làm khác. Bao lâu vẫn còn chủ trương các quyền của con người là ân huệ “ ban cho”, bấy lâu còn những vụ như Mỹ Yên”.
 
Quả thật, Ngài đã làm ngỡ ngàng người đọc, khi ngài mô tả những hành động chăn dân, lãnh đạo của nhà cầm quyền như những thói quen, như những hành động vô cảm không hề thay đổi. Nghĩa là những việc làm của nhà nước này đồi với người dân của mình giống như việc làm tắc trách của một gã tá điền hung bạo, hay của một tên đầy tớ bất lương khi họ hằn học, đặt cái ách vào cổ con trâu, con bò. Rồi nhắm mắt lại, hành hạ một con vật đang giúp chính bản thân y có một cuộc sống no ấm hơn, nhàn nhã hơn bằng cái roi cứng ở trong tay. Bắt nó lầm lũi kéo cày, kéo xe, không được nghỉ ngơi, không kể gì ngày mưa, ngày nắng. Không kể gì những lúc nó yếu đau, bụng đói. Mặc, cứ dùng cái roi vô lương trong tay như là một thứ bạo lực sắc bén nhất để buộc nó kéo cày theo hiệu lệnh! Không hề tìm hiểu xem vì lý do gì hôm nay nó bước đi không nổi. Và không hề có lấy một chút lòng thương xót cho nó. Cứ dục đi, đi cho đến lúc nó gục xuống mới thôi.
 
Hãy hỏi thử xem. Hành động ấy tốt xấu ra sao? Hãy hỏi xem, khi cái ách được tháo bỏ ra. Chuyện gì sẽ đến? Tên đầy tớ bất lương kia sẽ bị chủ nhân của nó trách mắng, sa thải chăng? Tên đầy tớ sẽ ăn năn, hối hận chăng? Hay có khi nào, tên đầy tớ bất lương kia nhận được cú trả đòn từ cặp sừng cứng như thép là sức lực cuối cùng của con trâu khi nó vừa đứng lên chăng? Nếu có, cái kết quả ấy có là ngỡ ngàng không?
 
Như thế, câu chuyện của những lá thư hay chính bản thân của TGM Kiệt, GM Hợp và nay là GM Oanh, không phải là sự muộn màng lên tiếng. Trái lại, nó luôn hiện diện và chỉ ra ý nghĩa cao cả, bao dung, tương trợ và đồng hành vì tương lai của đất nước và của dân tộc. Những lá thư ấy rõ ràng không dành cho riêng ai. Không cho anh, không cho tôi, nhưng cho mọi người. Đặc biệt là cho những người đang giữ trách nhiệm với đất nước tự hiểu. Phần các vị, có tiếc chi chính bản thân mình trong công cuộc bảo vệ cho Công Lý, cho Hòa Bình, cho Sự Thật? Có chăng là một sẵn sàng hy sinh. Tuy nhiên, các Ngài không hề muốn nhìn thấy cảnh máu đổ lệ rơi làm tổn hại máu xương của đồng bào Việt Nam. Ai chả biết, “Tự Do, Nhân Quyền” không tự nhiên mà có. Nhiều khi nó phải trả bằng nhiều máu xương mới có được. Nhưng không có nghĩa là bắt buộc phải trả bằng máu xương, vì người ta vẫn có thể mở ra một con đường đối thoại bằng sự “Từ Bỏ” bằng “Thay Đổi” để đưa đất nước một lối đi tốt đẹp.
 
Tôi viết thế, không có nghĩa là tôi ủng hộ hay muốn nói đến việc hòa giải, hòa hợp với cộng sản. Cũng không có ý bẻ cong những Văn Thư, những lời nói của các Ngài thành những mềm yếu “Xin Cho”, hoặc cho rằng các Ngài ủng hộ hay muốn sống chung với cộng sản. Trái lại, là một truyền đạt rõ ràng, dứt khoát. Phải là một sự thẳng thắn trong cuộc Từ Bỏ và Đổi Thay toàn diện. Bởi vì, điều ấy đã được dẫn giải, được chỉ đường bằng Boris Yelsin, bằng Mikhai Gobachev, bằng Putin... những bậc thầy, đẻ ra cả cái chủ nghĩa mà đảng và nhà nước cộng sản tại Việt Nam đang tôn thờ hôm nay. Điều ấy không tốt hơn là đổi bằng máu xương ư? Điều ấy không tốt hơn là việc đẫy nhau vào cuối đoạn đường. Nhà nước đương cuộc tiếp tục dùng bạo lực với Tam Tòa, Cồn Dâu, Mỹ Yên, Đầm Tôm, Văn Giảng... Coi cuộc sống của người dân như cỏ rác. Tiếp tục bắt bớ và tù đày những thanh niên, sinh viên Việt Nam yêu nước như 14 bạn trẻ ở Vinh, như Lê Quốc Quân, như Minh Hạnh, Điếu Cày, Duy Thức, Việt Khang, Nguyên Kha, Phương Uyên... thì có khác chi chính họ đã buộc người dân phải nhìn đảng cộng sản và nhà cầm quyền của đảng này như là một loại ký sinh đáng phải loại trừ ra khỏi xã hội. Phải chôn nó đi.
 
Tại sao phải loại trừ nhau, phải chôn nó đi ư? Có lẽ nào, nhà nước này không biết rằng, họ không thê vay mượn được sức mạnh qua những lần đi tây đi mỹ, hoặc giả, là đi Trung quốc với phương thuốc: “bốn tốt, mười sáu chữ vàng” hay theo kiểu “ môi hở răng lạnh” để tiếp tục đặt ách lên cổ người dân? Có lẽ nào họ không hiểu rằng, không có một sức mạnh nào lớn hơn, mạnh hơn mà không đến từ người dân, dù trong tay họ không có lấy một tấc sắt? Nếu họ chỉ muốn nuơng tựa vào sức mạnh từ ngoại bang để chà đạp nhân dân thì cái chuyện con trâu bị gục xuống trên cánh đồng chắc phải đến. Khi ấy sẽ là bi thảm không? Có thế là một bi thảm. Nhưng sẽ là cái bi thảm cuối cùng để người dân Việt Nam và con cháu của họ bước sang một cuộc sống đáng sống. Cuộc sống yên ổn trong một đất nước có chủ quyền. Ở đó người dân có được sự Tự Do, và những quyền hạn của con người được công lý bảo vệ. Hơn thế, ở nơi đó không còn bóng tối của gian dối và bạo lực của cộng sản phù lấp lên cuộc sống của người dân.
 
Đó là kết quả phải đến, kết quả từ bài học từ TKS, Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm, Cồn Dầu, Mỹ Yên, Văn Giảng, Tiên Lãng... là những bài học bằng máu và nước mắt mà người dân đã học được. Tuy thế, máu và nước mắt ấy sẽ không là đau thương hận thù. Trái lại là một sức sống mãnh liệt, bao dung và nhân ái, có khả năng giúp dân tộc ta trưởng thành, vững mạnh trong công việc xây dựng lại đất nước trong ngày mai.
 
 
Bảo Giang
03-10-13
__._,_.___
Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (3)

 

Phải chăng sấm Trạng Trình đang ứng nghiệm

 
 
“Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khổ đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân dậu niên lai kiến thái bình.”
 
Long vĩ (2012) xà đầu (2013) là cuối năm con rồng đầu năm con rắn bắt đầu có chiến tranh ở khắp nơi. Hiện tại Bắc Hàn đe dọa tấn công Nam Hàn và Hoa Kỳ. Ở trung đông, Syria đang có chiến tranh dữ dội giữa người dân và kẻ cầm quyền, Iran và Palestine đe dọa tiêu diệt Do Thái. Do Thái có lẽ sẽ đánh phủ đầu Iran trước khi Iran có võ khí nguyên tử trong năm 2013. Ở Á châu Trung Quốc tranh chấp hải phận với Nhật Bản và Philipines, TQ chiếm biển đảo của Việt Nam. Chiến tranh giữa Nam và Bắc Hàn có thể xảy ra bất cứ lúc nào và sẽ kéo theo TQ, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Ấn Độ vào cuộc thì đúng là “can qua xứ xứ khổ đao binh”. “Mã đề dương cước anh hùng tận” đầu năm con ngựa (2014) cho đến cuối năm con dê sẽ có nhiều người chết vì chiến tranh. Chiến tranh nguyên tử có thể bùng nổ ở bán đảo Triều Tiên và lây sang TQ. TQ rất lo sợ là khi Bắc Hàn xử dụng võ khí nguyên tử thì Nam Hàn và Mỹ sẽ trả đũa bằng bom nguyên tử. TQ có chung biên giới với Bắc Hàn, TQ sẽ bị phóng xạ nguyên tử mà phải di cư nhiều chục triệu dân khiến kinh tế TQ gặp khủng hoảng. TQ bênh vực Bắc Hàn mà vào cuộc chiến thì Nhật Bản, Úc và Ấn Độ là đồng minh của Mỹ sẽ tấn công Bắc Hàn và TQ. Chiến tranh sẽ kéo dài từ năm con ngựa (2014) cho đến hết năm con dê (2015) với số người tử vong của các bên tham chiến rất cao. Bắt đầu năm con khỉ (2016) cho đến con gà (2017) mới nhìn thấy thái bình.
 
Nghe thì có vẻ trớ trêu nhưng điều tốt đẹp cho dân tộc Bắc Hàn chính là được Mỹ và Nam Hàn tấn công, chiếm đóng. Nếu Mỹ phải thả hai quả bom nguyên tử vào Bắc Hàn để tiêu diệt những lãnh đạo độc tài thì dân Bắc Hàn được thực sự giải phóng cho dù sẽ có một số dân chết lây trong chiến tranh. Hai quả bom nguyên tử sẽ tàn phá Bắc Hàn ít hơn và ngắn hạn hơn là sự tàn phá của đảng CS Bắc Hàn. Ban lãnh đạo Bắc Hàn như căn nhà đã bị mối mọt ăn rỗng ruột. Cách tốt nhất là đốt căn nhà để tiêu diệt toàn bộ mối mọt và xây cất lại nhà mới tốt đẹp hơn. Mỹ đã từng chấm dứt chiến tranh với Nhật bằng hai quả bom nguyên tử và dẹp đi chế độ độc tài phong kiến ở Nhật và giúp nước Nhật xây dựng lại như ngày hôm nay. Nhật Hoàng ngày nay chỉ còn là biểu tượng chứ không trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia. Cái may mắn của đất nước Đại Hàn là vẫn còn có một nửa là Nam Hàn giàu mạnh, dân trí cao và được Mỹ giúp đỡ tận tình. Khi Đại Hàn thống nhất và không còn bị độc tài cộng sản ngự trị thì đất nước Đại Hàn sẽ có thêm tài nguyên và nhân lực xây dựng đất nước. Nam Bắc Hàn sẽ thống nhất tương tự như Đông Đức và Tây Đức và trở thành cường quốc thế giới. Dân tộc Việt Nam thì quá xui bị cộng sản độc tài đang ngự trị trên quê hương sau khi đất nước thống nhất. Kết quả là VN đứng gần hạng nhất vi phạm nhân quyền và tham nhũng và đứng gần hạng bét tự do báo chí. 
 
TQ đang rất lo sợ chiến tranh Triều Tiên bộc phát và tìm mọi cách để ngăn cản tên đàn em đừng gây sự mà vạ lây đến đàn anh. Đảng CSVN cũng mong muốn là chiến tranh Triều Tiên đừng xảy ra. Khi TQ bị lôi kéo vào chiến tranh Triều Tiên thì tên tay sai CSVN mất chỗ dựa và dân tộc VN sẽ đứng lên đòi nhân quyền và tự do dân chủ và chắc chắn đảng CSVN sẽ bị lật đổ. Khi TQ vì sợ vạ lây khoanh tay đứng nhìn tên đàn em Bắc Hàn bị Mỹ và Nam Hàn đánh bại thì đó cũng là dấu hiệu tốt cho toàn dân VN khởi nghĩa. Khi Bắc Hàn bị tiêu diệt thì Mỹ và Nam Hàn tiếp cận biên giới TQ và áp lực bao vây TQ rất khủng khiếp.
 
“Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng (năm con rắn 2014 hết sa tăng)
Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng (năm con ngựa 2014 quỷ đỏ CS chết)
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời” (“Cha con dòng họ thầy tăng” có lẽ cụ Trạng ám chỉ sư quốc doanh đi tu vẫn lấy vợ.)
 
“Nói đến độ thầy tăng mở nước (có lẽ cụ Trạng muốn nói các tôn giáo nổi lên)
Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu (đám quỷ cộng sản ăn nói, hành động xuôi ngược)
Bấy lâu những cậy phép màu
Bây giờ phép ấy để lâu không hào.” (dân không còn sợ CS)
 
“Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình vào ở nội Ngô Tề (có phải cụ Trạng Trình ám chỉ Việt kiều khắp nơi?)
Có thầy Nhân Thập đi về (Việt kiều trở về giúp xây dựng đất nước sau khi CS từ trần)
Tả hữu phù trì cây cỏ thành binh.”
 
Có phải sấm ký của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đang ứng nghiệm?
 



 

 

-Năm ngàn & năm cắc


Tưởng Năng Tiến
Lão bà nghỉ chợ bần thần
Đem tiền [Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong
Xếp riêng rồi lại xếp chung
Miệng thời lẩm bẩm mà… (không rõ nhời)!
Lão Nông

Vài bữa sau, sau ngày đổi tiền ở miền Nam, tờ Sài Gòn Giải phóng (số ra hôm 27 tháng 9 năm 1975) đã gửi đến những người dân ở vùng đất này đôi lời an ủi:
“Nhiệm vụ của đồng bạc Sài Gòn (là) giữ vai trò trung gian cho Diệm xuất cảng sức lao động của đồng bào ta ở miền Nam cho Mỹ… Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ miền Nam, làm lụn bại cả phẩm chất một số người lớn tuổi… Nó sống 30 năm dơ bẩn, tủi nhục như các tên chủ của nó, và nay nó đã chết cũng tủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lịch sử… Cái chết của nó đem lại phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta.”

Ba mươi tám năm sau, nhà báo Huy Đức lại có lời bàn thêm, và bàn ra, nghe như một tiếng thở dài: “Không biết ‘tủi nhục’ đã mất đi bao nhiêu … nhưng rất nhiều tiền bạc của người dân miền Nam đã trở thành giấy lộn.” (Bên thắng cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm!

Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai.

Hình 1: Đồng tiền 50 xu, năm cắc, in hình ông Ngô Đình Diệm, phát hành năm 1960

Hình 2: Tờ một đồng, phát hành năm 1955

Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi mới vừa biết sài tiền?

Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá bào nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi cho đến khi xi rô bạc hết cả mầu mới ngừng tay, lễ phép xin thêm:
- Cho con thêm chút xi rô nữa được không?

- Được chớ sao không. Bữa nào tụi bay cũng vậy mà còn làm bộ hỏi!

Năm cắc đủ cho một chén bò viên, dù chỉ được một viên thôi nhưng khi nắp thùng nước lèo mở ra là không gian (của cả Sài Gòn) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh đó – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy – hoà nhẹ với chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay có thể khiến cho đứa bé xuýt xoa mãi cho đến… lúc cuối đời.

Năm cắc cũng đủ làm cho chú Chệt vội vã thắng xe, mở ngay bình móp, lấy miếng kem – xắn một phần vuông vắn, cắm phập vào que tre – rồi trịnh trọng trao hàng với nụ cười tươi tắn. Cắn một miếng ngập răng, đậu xanh ngọt lạnh thấm dần qua lưỡi, rồi tan từ từ… suốt cả thời thơ ấu.

Năm cắc là giá của nửa ổ bánh mì tai heo, nửa má xoài tượng hay một xâu tầm ruột ướp nước đường, một cuốn bò bía, một trái bắp vườn, một ly đậu xanh đậu đỏ bánh lọt, một dĩa gỏi đu đủ bò khô, một khúc mía hấp, năm cái bánh bò nước dừa xanh đỏ, mười viên cái bi ròn ròn cái bi ngon ngon nho nhỏ…

Một một đồng thì (Trời ơi!) đó là cả một trời, và một thời, hạnh phúc muôn mầu!

Một đồng mua được hai quả bóng bay. Chiều Sài Gòn mà không có bong bóng bay (cầm tay) để tung tăng e sẽ là một buổi chiều… tẻ nhạt. Những chùm bóng đủ mầu sẽ rực rỡ hơn khi phố mới lên đèn, và sẽ rực rỡ mãi trong trong ký ức của một kẻ tha hương dù tóc đã điểm sương.

Còn hai đồng là nguyên một tô cháo huyết có thêm đĩa dà trá quẩy ròn rụm đi kèm. Hai đồng là một tô mì xắt xíu với cái bánh tôm vàng ươm bên trên, và nửa cọng rau xà lách tươi xanh bên dưới. Tờ giấy bạc với mệnh giá quá lớn lao và rất hiếm hoi này, không ít lúc, đã khiến cho tuổi thơ của tôi vô cùng phân vân và bối rối!

Hình 3: Tờ bạc hai đồng, phát hành năm 1955

Và trong cái lúc mà tôi còn đang suy tính, lưỡng lự, cân nhắc giữa bốn cái kem đậu xanh năm cắc, bốn cuốn bò bía, bốn ly nước mía, hay một tô hủ tíu xắt xíu thịt bằm béo ngậy (cùng) giá hai đồng thì ở bên kia chiến tuyến người ta đã quyết định cho ra đời Mặt trận Giải phóng Miền Nam – vào ngày 20 tháng 12 năm 1960.
Hệ quả thấy được, vào mười lăm năm sau – vẫn theo báo Sài Gòn Giải phóng, số thượng dẫn:
“Miền Nam đã có một nền tiền tệ mới, khai sinh từ sự độc lập toàn vẹn của xứ sở, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã nâng niu từng tờ bạc của Ngân hàng Việt Nam với một niềm hãnh diện chưa từng thấy sau bao nhiêu thế kỷ mất nước phải ép mình sống với đồng bạc của ngoại bang.”

Niềm hãnh diện được nâng niu từng tờ bạc mới (nếu có) cũng nhỏ dần sau từng đợt đổi tiền. Rồi với thời gian nó từ từ biến thành… giấy lộn – như tường thuật của nhà báo Bạch Nga, đọc được trên Vietnamnet hôm 21 tháng 5 năm 2012:
“Trong khi ngồi đợi xe ở trạm trung chuyển xe bus Long Biên, tôi được dịp chứng kiến cảnh một bà lão ăn xin chê tiền của khách.

‘Cô tính thế nào chứ 2 nghìn bây giờ chả đủ mua mớ rau, lần sau đã mất công cho thì cho ‘tử tế’ nhá!’

Câu nói của bà lão ăn xin khiến nhiều người phải sốc…

Chị Hương (Cầu Giấy – Hà Nội) chia sẻ câu chuyện có thật mà như đùa: ‘Nói thật, có lần gặp hai chị em nhà này đi ăn xin, thương tâm quá tôi liền rút ví ra đưa cho chúng 3 nghìn lẻ. Ngay lập tức, nó gọi tôi lại, giơ tờ 5 nghìn đồng lên trước mặt tôi bảo: cho chị thêm 2 nghìn cho đủ mua mớ rau nhé.”

Và đó là chuyện xẩy ra năm trước. Năm nay – sau khi dự phiên họp ngày 14 tháng 5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau khi nghe các báo cáo của Chính phủ và Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính về ngân sách những tháng đầu năm 2013 – Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan bỗng (chợt) nhận ra rằng: “Tình hình kinh tế gay go lắm rồi!”

Ủa, “gay go” sao?

Mà “gay go” tới cỡ nào lận?

Ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, người đã từng lạc quan tuyên bố “năm 2015 sẽ có một Vinashin mới” nay đã bắt đầu đổi giọng: “Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%.” Và đã đến nước này thì ông phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Nguyễn Xuân Cường, cũng đành phải (xuôi xị) nói theo thôi: “Tình hình đúng là hết sức đáng lo ngại.”


Điều lo ngại nhất là bó rau muống sẽ không ngừng ở giá năm ngàn đồng bạc. Dù với số tiền này – vào năm 1960 – đủ để mua hai ngàn tô phở gánh, hay hai ngàn năm trăm tô mì xe, hoặc mười ngàn chiếc bong bóng đủ mầu.

Bù lại, vẫn theo lời của bà Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Doan, là mọi người được sống với “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân… khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản.”

Cái giá của “dân chủ” (cũng như Độc lập – Tự do – Hạnh phúc) của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, rõ ràng, hơi mắc. Dân Việt, tội thay, không những đã hớ mà còn mua nhầm đồ giả và đồ đểu nữa mới chết (mẹ) chớ!

© 2013 Tưởng Năng Tiến & pro&contra

 

That hay..(Văn Hóa Nhật, tóm tắt)


Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.

Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển.

Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.

Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, công chức cho thấy một nước Nhật không khoảng cách.

Ở Nhật, nội trợ là một nghề.  Hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các chế độ y như một người đi làm.  Về già vẫn hưởng đầy đủ lương hưu.


Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật.  Không có bất cứ sự ưu tiên nào.  Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.

Họ thật sự đã thành công khi để lại ấn tượng sâu sắc về một nước Nhật vô cùng hiếu khách và nghệ thuật giao tiếp tuyệt vời.

.


Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.

Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển.

Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.

Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, công chức cho thấy một nước Nhật không khoảng cách.

Ở Nhật, nội trợ là một nghề.  Hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các chế độ y như một người đi làm.  Về già vẫn hưởng đầy đủ lương hưu.


Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật.  Không có bất cứ sự ưu tiên nào.  Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.

Họ thật sự đã thành công khi để lại ấn tượng sâu sắc về một nước Nhật vô cùng hiếu khách và nghệ thuật giao tiếp tuyệt vời.

 

“SUY NGHĨ TRONG NHỮNG NGÀY NẰM BỊNH…”
(LÊ HIẾU ĐẰNG)
Sau hơn 45 năm chiến đấu trong hàng ngũ Đảng Cộng Sản Việt Nam, với 45 tuổi Đảng, những trãi nghiệm cay đắng mà tôi cùng nhiều bạn bè nữa trong phong trào học sinh sinh viên trước 1975 đã chịu đựng thôi thúc tôi phải “thanh toán”, “tính sổ” lại tất cả. Trong lúc nằm bịnh tôi đọc quyển “Chuyện nghề của Thủy” của đạo diễn Trần Văn Thủy, các truyện của các nhà văn quân đội như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Trần Dần và qua ti vi xem các chuyến đi thăm Mỹ của chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng  thăm Hàn Quốc, Myanma (Miến Điện)lại càng giục giã tôi viết những dòng này. Các nhà văn đã cho tôi thấy thêm sự bi thảm của thân phận con người trong cái gọi là CNXH ở Miền Bắc, một xã hội không có bóng người. Chuyến đi của chủ tịch nước Trương Tấn Sang không có những nghi thức cao nhất của một nguyên thủ quốc gia hay chuyến đi thăm Hàn Quốc , Myanma của chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nếu đem so sánh các chuyến đi thăm Trung Quốc của các vị thì không khí hoàn toàn khác nhau. Một bên thì khô cứng, lạnh lùng của một nước lớn đầy tham vọng, một bên là không khí cởi mở, vui vẻ bình đẳng. Không biết các nhà lãnh đạo của ĐCS Việt Nam với lòng tự trọng dân tộc có “mở mắt” thấy điều đó không?. Hẳn nhiên chúng ta không thể đòi hỏi Mỹ làm nhiều điều tích cực hơn bởi vì công bằng mà nói anh không thể “mở lòng” với một nước mà thái độ không rõ ràng, bất nhất.
Tất cả tình cảm của gia đình và bạn bè trong nước cũng như ở nước ngoài làm tôi suy nghĩ miên man trong lúc nằm bịnh càng khẳng định với tôi một điều: con đường mà tôi cùng nhiều bạn bè, đồng đội đã lựa chọn, con đường tiếp tục đấu tranh cho lý tưởng thời trai trẻ và một xã hội công bằng tự do dân chủ. Ở đó con người sống với nhau một cách tử tế, thật sự được giải phóng từ người nô lệ thành người làm chủ của đất nước. Tôi ngày càng hiểu sâu sắc từ “GIẢI PHÓNG” không có nghĩa như ngày nay người ta thường dùng mà là sự thoát xác thật sự làm người tự do , dù cho người cai trị là da trắng hay da vàng, thậm chí điều đau khổ, bi thảm nhất là hệ thống cai trị chính là người của dân tộc đó, là Việt Nam, là Trung Quốc, v.v. Nếu hiểu từ giải phóng theo ý thức sâu xa đó thì tôi cũng rất đồng tình với nhận xét của nhiều nhà báo, nhà văn, học giả ở Miền Bắc, trong đó có nhà báo Huy Đức trong cuốn “Bên thắng cuộc” mới đây. Thật sự là Miền Nam đã giái phóng Miền Bắc trên tất cả các lĩnh vực nhất là kinh tế, văn hóa tư tưởng…Vì những lẽ trên tôi xin “tính sổ” với ĐCS VN và với bản thân cuộc đời của tôi, tư cách một đảng viên, một công dân ở những điểm cơ bản sau: một cách minh bạch, song phẳng để từ đây thanh thản dấn thân vô cuộc chiến mới.
1.     Vì sao tôi đi kháng chiến, vào ĐCS Việt Nam?
Vào thế kỉ trước, chủ nghĩa Marx, CNXH, CNCS đã làm say mê biết bao trí thức, văn  nghệ sĩ ở các nước, nhất là ở nước Pháp, cái nôi của khuynh hướng xã hội, dân chủ mà cả thời kỳ ánh sáng với các tên tuổi như Montesquieux, Voltaire, Jean Jacquess Rousseaux v.v…với khát vọng xây dựng một xã hội bác ái, tự do, bình đẳng. Chủ nghĩa Marx, CNXH, CNCS chẳng những lôi cuốn, làm say mê của nhiều thế hệ trí thức phương Tây thì ở Việt Nam cũng vậy. Những tri thức văn nghệ sĩ tên tuổi lẫy lừng như Văn Cao, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Thanh Tịnh, Thế Lữ v.v…hay những tri thức tên tuổi ở nước ngoài như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường. Thật ra họ theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của HCM mà họ đi vào chiến khu chứ họ ít hoặc chưa biết chủ nghĩa Marx là gì, CNXH ra sao nhưng họ hy vọng sau khi kháng chiến thành công sẽ xây dựng một xã hội dân chủ tiến bộ xã hội, tự do, hạnh phúc mà trong tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp năm 1946 ông HCM đã trịnh trọng cam kết trước toàn dân trước Ba Đình lịch sử. Lòng yêu nước, lòng tự trọng dân tộc đã thúc đẩy mọi người tham gia Cách mạng tháng 8 và sau đó đi kháng chiến. Bạn bè tôi và bản thân tôi cũng thôi thúc bởi những tình cảm đó: lòng yêu nước, ý chí chống xâm lược, giành độc lập tự do dân chủ cho Tổ quốc để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn các chế độ cũ ở đó công nhân, nông dân, người lao động, những người hi sinh nhiều trong chiến tranh có cuộc sống ấm no, hạnh phúc đã thôi thúc chúng tôi lên đường. tôi vào Đảng cũng rất đơn giản: năm 1966, anh Nguyễn Ngọc Phương (Ba Triết) phụ trách đơn tuyến tôi, hẹn tôi gặp nhau ở một chùa trên đường Trần Quốc Toản (nay là 3-2) để sinh hoạt. Ahh Nguyễn Ngọc Phương nghiêm mặt tuyên bố: “Đ/c Bắc Sơn (bí danh của tôi lúc đó) đ/c từ nay là Đảng viên Đảng nhân dân cách mạng (thực chất là Đảng Lao động Việt Nam ở Miền Nam mà thôi). Lẽ ra tôi đưa điều lệ để đồng chí nghiên cứu nhưng đ/c là người hoạt động công khai trong Ban chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn và ĐH Luật Khoa nên tôi bây giờ mới phổ biến một số điều trong điều lệ để đ/c biết”. Một buổi kết nạp chẳng có lời thề thốt, cờ quạt gì cả. Anh Nguyễn Ngọc Phương, người phụ trách tôi trong thời gian đầu, là người lớn lên trong một gia đình khá giả, có em gái lấy nghệ sĩ hài nổi tiếng Bảo Quốc. Thật ra qua một số người hoạt động ở Huế anh ấy đã biết tôi đã từng tham gia phong trào đấu tranh Sinh viên học sinh Huế lúc tôi còn học đệ nhị, đệ nhất Quốc học Huế và đã từng bị bắt giam ở lao Thừa Phủ Huế gần một năm với Lý Thiện Sanh (nay là bác sĩ định cư ở Úc). Vì chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó nghĩ tôi là thành viên của Đoàn TN nhân dân Cách mạng Miền Nam. Nhắc đến đây tôi có một kỉ niệm khó quên: ba tôi và mẹ Lý Thiện Sanh nóng lòng vì đã đến kì thi Tú tài II nhưng chúng tôi vẫn bị nhốt trong tù. Vì vậy ông bà làm đơn hú họa xin cho hai chúng tôi ra thi. Thế mà chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó lại giải quyết cho ra thi. Tôi theo ban C Triết học nên chỉ còn vài ngày nữa là thi, ba tôi gửi một số sách vào cho tôi. May mắn lúc đó tôi đã đọc nhiều sách triết học của các Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn và các tạp chí Sáng tạo, Hiện đại của nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, Tô Hoàng Yên v.v…, kể cả quyển sách viết về Niejche của Nguyễn Đồng Thi Hiền còn trai trẻ trước 1945 nên gặp đề thi triết khá hay tôi tán đủ điều đậu hạng thứ dễ dàng. Còn Lý Thiện Sanh học ban B vốn rất giỏi nên đậu hạng bình thứ. Những ngày ba tôi đến đón tôi ra thi ông đã đi qua cánh đồng An Cựu trong những ngày giá lạnh. Tôi không thể nào quên hình ảnh đó của ba tôi. Bây giờ Người đã mất nhưng tôi không bao giờ quên ông, biết ơn nuôi dạy tôi thành người trưởng thành pha một chút ân hận vì tôi mà ông phải khổ sở. Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?  Trong thời gian đó, lúc nhà tù cho tù nhân làm văn nghệ, tôi thường hát bài “Tình quê hương” thơ Phan Lạc Tuyên, nhạc Đan Thọ, lúc đó là Đại úy Quân đội Sài Gòn. Gia đình của người phụ trách lao Thừa Phủ đứng trên bức tường có đường đi bao quanh nhà tù để xem. Đúng là cái máu lãng mạng của đám Sinh viên học sinh chúng tôi lúc đó ngay trong tù cũng nổi dậy đùng đùng và có cô con gái rất thích bài đó. Lý Thiện Sanh đùa “Nó khoái mày rồi đó”. Về anh Nguyễn Ngọc Phương người phụ trách tôi sau này bị địch bắt, đã hi sinh trong tù năm 1973. Năm ngoái, nhân ngày giỗ anh, tôi có kể lại việc mỗi lần sinh hoạt với tôi xong anh đề nghị tôi hát bài “Trăng mờ bên suối” của Hoàng Nguyên. Hát xong tôi hỏi anh: “Anh là bí thư Đảng ủy sinh viên mà sao thích bài hát ước át quá vậy?”. Anh cười buồn và nói: “Chúng ta chiến đấu xét đến cùng là vì con người. Nhưng bài hát đó viết rất hay về con người thì sao mình không thích được!”. Nghe anh tôi càng cảm phục người đ/c phụ trách tôi và hôm giỗ anh tôi hát lại bài “Trăng mờ bên suối” để cúng anh. Sau đó, chị Cao Thị Quế Hương có vẻ trách tôi vì cho rằng anh Phương không  thể ủy mị như vậy. Tôi cười buồn và im lặng.
Tôi đã đi theo kháng chiến và vào Đảng như thế đó…
2.     Vấn đề đa nguyên, đa đảng
Có thời gian từ 1975 đến 1983 tôi là giảng viên Triết học và Chủ nghĩa xã hội khoa học ở trường Đảng Nguyễn Văn Cừ thuộc khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Về phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin mà tôi hiểu được có một điều cơ bản là cơ sở hạ tầng (bao gồm cơ sở xã hội, cơ sở kinh tế v.v…) như thế nào thì phản ảnh lên thượng tầng kiến trúc như thế đó. Sau một thời gian dài Đảng và nhà nước Việt Nam nhận chìm các tầng lớp nhân dân Việt Nam từ Bắc đến chí Nam dưới chế độ quản lý kinh tế bao cấp, đi ngược lại tất cả qui luật tự nhiên, cóp pi mô hình kinh tế của Liên bang Xô viết và Trung Quốc cộng sản 100%. Dân chúng đói kém rên xiết. các đợt cải tạo tư sản X1, X2 đã làm tan nát biết bao gia đình, làm dòng người vượt biên ngày càng nhiều, và biết bao gia đình phải chết tức tưởi trên biển. Trong đó có gia đình nhà báo Trần Triệu Luật, người đã cùng tôi vào chiến khu và đã hi sinh vào ngày 11.10.1968. tại căn cứ Ban tuyên huấn T.Ư cục Miền Nam cùng với nhà thơ Thảo Nguyên Trần Quang Long sau trận bom ác liệt của  F105 của Mỹ. Hoặc bị bọn cướp biển hãm hiếp làm nhục trước mặt chồng con. Có thể nói tất cả điều đó là tội ác của Đảng và Nhà nước Việt Nam, không thể nói khác được. Trước sự rên xiết của người dân, những nhà lãnh đạo còn có tấm lòng và suy nghĩ đã chủ trương phải đổi mới kinh tế bằng cách phải chấp nhận kinh tế có nhiều thành phần trong đó có kinh tế cá thể. Thế thì một khi cơ sở hạ tầng có nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ có nhiều tầng lớp với lợi ích khác nhau thì tất yếu họ phải có tổ chức để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của họ. Đó là qui luật tất yếu, vì vậy không thể không đa nguyên đa đảng được, và như vậy điều 4 Hiến Pháp hiện nay là vô nghĩa. Trước sau gì các vị lãnh đạo của ĐCS phải chấp nhận thách thức này : các Đảng, tổ chức đối lập sẽ đấu tranh bình đẳng với ĐCS trong các cuộc bầu cử hợp pháp có quan sát viên Quốc tế giám sát như hiện nay Campuchia đã làm. Tôi thách bất cứ ai trong Bộ chính trị, Ban bí thư, trong ban Tuyên huấn của Đảng mà đứng đầu là ông Đinh Thế Huynh, vừa là Trưởng ban, vừa là Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương trả lời luôn một cách công khai, minh bạch với chúng tôi trên các diễn đàn mà không chơi trò “bỏ bóng đá người” như đã từng thường sử dụng hiện nay. Thực tế hiện nay, trong Nam ngoài Bắc đã tập hợp được những khuynh hướng có chủ trương đấu tranh cho một thể chế dân chủ cộng hòa mà tiêu biểu là đề nghị 7 điểm và dự thảo hiến pháp năm 2013 của nhân sĩ trí thức tiêu biểu ở trong Nam Bắc như nhà văn Nguyên Ngọc, các giáo sư Hoàng Tụy, Chu Hảo, Tương Lai, Phạm Duy Hiển, những trợ lý Tổng bí thư, Thủ tướng hoặc đại sứ nhiều thời kỳ như ông Trần Đức Nguyên, Việt Phương, Nguyễn Trung v.v…Các nhà kinh tế có uy tín lớn như Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, các nhà báo, nhân sĩ trí thức kỳ cựu như Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Đình Đầu, Lữ Phương, Kha Lương Ngãi, Nguyễn Quốc Thái, và các “lãnh tụ” sinh viên trước đây đã có một thời kỳ lẫy lừng trong phong trào đấu tranh tại Sài Gòn và các đô thị Miền Nam trước 1975 như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Trần Văn Long (Năm Hiền), Huỳnh Kim Báu, Hạ Đình Nguyên, Cao Lập và biết bao con người tâm huyết mặc dầu đời sống kinh tế đã khá giả, có những người là giàu có nhưng không thể yên tâm thụ hưởng tất cả những tiện nghi của đời sống đã vùng lên sau một giấc ngủ khá dài để chấp nhận mọi rủi ro, nguy hiểm cho bản thân cá nhân mình cũng như gia đình để dấn thân vào cuộc chiến đấu mới để tiếp tục thực hiện lý tưởng thời trai trẻ mà hiện nay đã bị phản bội, chà đạp những lời hứa năm nào trong kháng chiến. Ngoài ra còn cả một lớp trẻ hăng hái, nhiệt tình bao gồm những blogers, những sinh viên đang có những hoạt động ở các trường Đại học hoặc nhiều tổ chức khác. Tình hình trên cộng với thực tế hiện nay tôi biết nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi Đảng, hoặc không còn sinh hoạt Đảng (giấy sinh hoạt bỏ vào ngăn kéo). Vậy tại sao chúng ta,- hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới chẳng hạn như Đảng Dân chủ xã hội, những Đảng đã có trên thực tế trước đây cho đến khi bị ĐCS bức tử phải tự giải tán. Tại sao tình hình đã chín mùi mà chúng ta không dám làm điều này vì chủ trương không đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này. Mà nguyên tắc pháp lý là điều gì luật pháp không cấm chúng ta đều có quyền làm. Đó là quyền công dân chính đáng của chúng ta. Không thể rụt rè, cân nhắc gì nữa. Đây là một yếu tố sẽ làm cho xã hội công dân, xã hội dân sự mạnh lên, không có thế lực nào ngăn cản được. Đây là cách chúng ta phá vỡ một mảng yếu nhất của một nhà nước độc tài toàn trị hiện nay. Chẳng lẽ nhà nước này bắt bỏ tù tất cả chúng ta sao? Chúng ta phải đấu tranh với phương châm công khai, minh bạch, ôn hòa, bất bạo động, phản đối tất cả mọi hành động manh động, bạo lực khiêu khích gây chiến tranh. Như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết đại khái trong bất cứ cuộc chiến tranh nào người thất bại đều là nhân dân. Giờ hành động đã đến. Không chần chừ, do dự được nữa.
3.     Vấn đề Độc lập dân chủ, tự do và hạnh phúc
-Việt Nam đã thống nhất mặc dầu còn nhiều điều chưa hòa hợp, đoàn kết thực sự. Nhưng còn độc lập thì sao? Sau khi hi sinh biết bao xương máu, nay Đảng và Nhà nước Việt Nam đều phải len lén nhìn ông bạn láng giềng Trung Quốc, -những kẻ luôn chực nuốt chửng nước ta ,và vào năm 1979 họ đã xua quân tàn sát người dân Lạng Sơn và các tỉnh phía Bắc mà tên Đặng Tiểu Bình xấc xược gọi là dạy cho Việt Nam một bài học. Thật ra tổ tiên chúng ta, những tiền nhân thời xa xưa trước đã cho họ nhiều bài học Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Gò Đống Đa v.v… Không biết tập đoàn Tập Cận Bình có còn nhớ những bài học đó không? Riêng các vị lãnh đạo ĐCS  và Nhà nước Việt Nam thì dường như chưa thấy hết sức mạnh của dân tộc Việt nam nên quá “hiền lành” đối với một nước lớn nhưng rất “tiểu nhân” (chữ nghĩa của các truyện Tàu), miệng thì xoen xoét nói về “bốn tốt ,mười sáu chữ vàng” trong lúc hành động thực tế là uy hiếp, săn đuổi, bắt bớ một cách vô nhân đạo các ngư dân Việt Nam đang đánh bắt trong ngư trường truyền thống của mình, hoặc hèn hạ cắt đứt cáp các tàu thăm dò dầu khí của chúng ta. Thế mà phản ứng của lãnh đạo Việt Nam thì quá nhu nhược: chỉ là lời phản đối lặp đi lặp lại nghe quá nhàm tai và khó chịu của người phát ngôn viên bộ Ngoại giao. Đến nỗi, có những vụ việc lớn, càng không dám thực hiện những việc bình thường trong quan hệ quốc tế là triệu tập đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội đến để trao công hàm phản đối, chứ không chỉ là tự mình phải mang công hàm đến toà đại sứ. Vậy thì độc lập cái gì? Hẳn nhiên là chúng ta không dựa vào nước nầy chống các nước khác, nhưng thực tế quốc tế hiện nay rất thuận lợi để chúng ta liên kết với các nước để đấu tranh với Trung Quốc về Biển Đông. Tôi rất mừng nghe Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ở hội nghị Shangri-la chống lại nền chính trị cường quyền và những đối xử vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam. Trả lời phỏng vấn một thiếu tướng Trung Quốc, Thủ tướng đã khéo léo nói nước đó là nước nào ai cũng biết !. Rõ ràng đây là cú đấm đích đáng bọn bành trướng Bắc Kinh trong một diễn đàn quốc tế. Tôi càng thấy vui hơn khi được biết đây là ý kiến của cá nhân Thủ tướng dám chịu trách nhiệm để tuyên bố như vậy chứ không có sự chỉ đạo nào của Bộ chính trị cả. Vì thế mà Hạ Đình Nguyên trong một bài viết về vấn đề nầy đã hoan hô Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến 5 lần.
-Vấn đề Dân chủ, tự do và hạnh phúc
Thực chất đây là vấn đề dân sinh, dân chủ mà trước đây trong thời kì kháng chiến hoặc trước 1975, ĐCS VN đã phát động để đấu tranh giành quyền sống. Đây là vấn đề về con người.
+Về dân chủ thì đã quá rõ. Muốn có dân chủ thực sự thì phải thay đổi thể chế từ một nhà nước độc tài toàn trị chuyển thành một nhà nước cộng hòa với tam quyền phân lập: lập pháp, hiến pháp, tư pháp, riêng biệt và độc lập. Tư pháp độc lập thì mới có thể chống tham nhũng. Cần có Quốc hội lập hiến để soạn thảo và thông qua Hiến pháp mới. Sau đó bầu Quốc hội lập pháp để ĐCS sẽ qua bầu cử bình đẳng mà trở thành người lãnh đạo. Tôi nghĩ trong một thời gian dài ĐCS sẽ là một lực lượng chính trị mà không có bất cứ lực lượng nào có thể tranh chấp được. Các nhà lãnh đạo ĐCS cần tự tin điều đó. Dần dần các Đảng đối lập sẽ trở thành một lực lượng làm nhiệm vụ như một kháng thể trong một cơ thể xã hội lành mạnh. Nếu xã hội không có lực lượng đối lập sẽ trở thành một con bệnh SIDA khó trị,chỉ có chờ chết mà thôi.
+Con người khác con vật ở chỗ là có tự do. Tự do là thuộc tính của con người. Không có tự do thì con người chỉ là một đàn cừu (theo ngôn ngữ của giáo sư toán học Ngô Bảo Châu). Không có tự do thì không thể có khoa học, văn học, nghệ thuật, báo chí…thật sự. Do đó Hiến Pháp 1946 đã qui định những quyền tự do của con người. Đó là vấn đề quyền con người. Nhưng giờ đây,chế độ toàn trị đã phản bội tước đoạt tất cả các quyền cơ bản đó, vất bỏ tuyên ngôn nhân quyền và nhai đi nhai lại luận điệu mỗi nước có hoàn cảnh riêng, có vấn đề nhân quyền riêng. Họ không biết rằng đó là quyền cơ bản và phổ quát mà loài người đã đấu tranh qua nhiều thế kỷ đầy máu và nước mắt mới có được. Trong cuốn “Đi tìm cái tôi đã mất” của đại tá nhà văn Nguyễn Khải đã nói: “khi đọc cuốn Bàn về tự do của Stuart Mill thì vỡ ra nhiều vấn đề”. Vì vậy anh Nguyễn Khãi đã nhìn lại những  gì mà anh đã trãi nghiệm một cách sâu sắc với một giọng văn nhẹ nhàng không hàm hồ nên rất thuyết phục. Đây là quyển sách đã đi sâu vào tim óc của chế độ mà không thấy các vị “phê bình điểm chỉ” (cách gọi mới đây của nhà văn Phạm Xuân Nguyên, chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội đối với tên Nguyễn Lưu cùng với một số người trong việc “bề hội đồng” bài viết của Thạc sĩ Nhã Thuyên về nhóm “Mở miệng”) nào dám phê phán, chửi rủa. Các vị lãnh đạo ĐCS tại sao không suy nghĩ trong chế độ thuộc Pháp lại có một thời báo chí, văn học nghệ thuật phát triển mà cho đến nay chưa có thời kì nào có thể so sánh được dù là chế độ gọi là “tự do gấp vạn lần” như bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã nói một cách hàn hồ, thiếu suy nghĩ, chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Báo chí thì nở rộ Gia Định báo, Phụ nữ tân văn, Nam Phong, Phong hóa ngày nay…với những Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi…Văn học nghệ thuật thì có cả một trào lưu thơ mới với Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư và nhiều nhà thơ nổi tiếng khác với nhiều bài thơ bất hủ mà đến nay ai cũng thuộc nằm lòng. Về tiểu thuyết thì có nhóm Tự lực văn đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo…Ngoài ra còn có hàng loạt nhà văn tài hoa khác như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Lan Khai, Thanh Tịnh, Nguyên Hồng v.v…Với Thanh Tịnh tôi vẫn nhớ bài “Tôi đi học” trong tập “Quê mẹ” của ông. “Hằng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức với những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nẩy nở trong lòng tôi như những đóa hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm đắt tay tôi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường nầy tôi đã quen đi lại nhiều lần nhưng lần nầy bỗng nhiên thấy lạ vì hôm nay tôi đi học.” Nhạc thì có một thời có nền tân nhạc rực rỡ với các tên tuổi như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Phạm Duy, Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Doãn Mẫn, Lê Thương, Nguyễn Văn Thương…Thế mà Thanh Tịnh và những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ nói trên dưới chế độ XHCN ở Miền Bắc chẳng có tác phẩm nào ra hồn.
Cũng may ra sau 1975, không khí vui vẻ, sum họp của những ngày đầu đã tạo nên trào lưu hứng khởi để nhạc sĩ VĂN CAO làm bài “Mùa xuân đầu tiên” với điệu valse dìu dặt. Nhưng tội nghiệp cho Văn Cao đã ngây thơ tin rằng “Từ đây người biết yêu người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết quê người…” thế mà bài ca này cũng bị cấm hát hết mấy năm. Những năm sau, khi vào chơi với Trịnh Công Sơn và các nhạc sĩ Miền Nam,ông Văn Cao đã nói lên nỗi thất vọng của ông. Cảnh chia lìa, vượt biên, đày đọa, tù tội trong đó có người bạn văn chương của các ông đã làm ông buồn bực và tiếp tục uống rượu. Chỉ có một điều an ủi của ông là vào Nam, vào Sài Gòn, ông nghe mọi người từ trẻ đến già đều hát “Mùa xuân đầu tiên”, “Thiên thai”, “Suối mơ”, “Trương Chi”, “Buồn tàn thu”v.v…của ông. Vấn đề là:- ĐCS VN cần trả lại những gì của lịch sử, của tiền nhân để lại. Việc đổi tên đường từ Trần Quý Cáp thành Võ Văn Tần, từ Phan Đình Phùng thành Nguyễn Đình Chiểu v.v…là việc làm thiếu suy nghĩ, nếu không nói là ngu xuẩn, chà đạp lên lịch sử, xúc phạm những chiến sĩ tuy không phải là Cộng sản nhưng đã đấu tranh bảo vệ đất nước trong các phong trào Cần Vương, Duy Tân. Ngay trong lĩnh vực báo chí tại sao lại lấy ngày ra đời báo Thanh Niên, báo của tổ chức CS làm ngày báo chí VN. Quan điểm tôi là phải lấy ngày 15-4 là ngày số báo đầu tiên của Gia Định báo năm 1914 làm ngày báo chí VN. Năm sau, một số nhà báo cùng chúng tôi sẽ tổ chức ngày báo chí VN vào ngày 15-4. Còn ĐCS và các tổ chức của mình cứ lấy ngày 21-6 làm ngày báo chí Cách mạng cũng không sao. Việc ai nấy làm. Thế thôi.
Tại Miền Bắc gọi là XHCN khi hòa bình mới lập lại (1954), các văn nghệ sĩ mà đặc biệt đi tiên phong là các nhà thơ, nhà văn quân đội, mà tiêu biểu là Trần Dân, Phùng Quán, Hoàng Cầm…đã  gây chấn động trong vụ Nhân văn giai phẩm. Có lẽ vì họ là những người trực tiếp chiến đấu, từng chứng kiến cảnh chết chóc của nhân dân trong chiến tranh nên họ quyết tâm tiếp tục chiến đấu để xây dựng một chế độ tự do dân chủ và tiến bộ xã hội. Họ đã quy tụ được nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ giàn trận đấu tranh quyết liệt với Đảng  để đòi hỏi tự do sáng tác, đòi hỏi chính trị không được can thiệp vào sáng tác của văn nghệ sĩ. Nhà nước độc tài Đảng trị trong những năm đó thấy đây là nguy cơ đe dọa của chế độ nên đã ra tay đàn áp, bắt bớ, tù đày một cách không nương tay. Người bị tù với vụ án ngụy tạo như công thần Nguyễn Hữu Đang, người đã làm lễ đài Độc lập năm 1946. Hữu Loan với lòng tự trọng của một người văn nghệ sĩ cương quyết về quê thồ vác đá nuôi vợ con. Ba mẹ vợ anh, trong cải cách ruộng đất, đã bị chôn sống để trâu bò bừa lên đầu, lên cổ cho đến chết. Một Nguyên Hồng khảng khái bỏ về quê nuôi heo để kiếm sống. Trần Hữu Đang sống những ngày tủi nhục phải góp nhặt bao thuốc lá làm hàng  “đối lưu” với ếch nhái, rắn rết của bọn trẻ chung quanh kiếm cho. Năm 1989, tôi gặp thạc sĩ Luật Nguyễn Mạnh Tường ở Pháp , người đã theo Hồ Chí Minh về nước năm 1946. Ông kể lại hoàn cảnh của ông lúc đó, bị cô lập đến nỗi học trò cũng không dám nhìn mặt, phải bán tủ sách quí để sống qua ngày. Còn nhà triết học Trần Đức Thảo , khi tôi còn làm Phó chủ tịch thường trực MTTQ TP.HCM đã mời ông đến nói chuyện. Bước xuống xe ông ngó lên liền, xem có công an theo dõi ông không. Buổi nói chuyện làm mọi người thất vọng vô cùng về ông.
Tôi còn có những kỉ niệm đau đến xé lòng khi còn nằm trong hệ thống chính trị của nhà nước toàn trị. Lúc còn là phó CT/TT MTTQ TP.HCM và là đại biểu HĐND TP khóa 4, khóa 5. Có mấy việc tôi còn nhớ mãi:
+ĐCS VN ngày trở thành kiêu binh. Đâu đâu cũng vỗ ngực xưng tên là “ĐCS VN quang vinh muôn năm”. Ngay cả Hội trường của cơ quan dân cử như HĐND TP thế mà chẳng thấy đất nước, Tổ quốc đâu cả, chỉ thấy một khẩu hiệu to, chần dần “ĐCS VN quang vinh muôn năm”. Một số đại biểu trong HĐND trong Đảng cũng như ngoài Đảng thấy chướng mắt nhưng không dám nói. Họ đến nói với tôi. Tôi thông cảm họ. Trong HĐND khóa 5, khi lên phát biểu ở Hội trường tôi trầm giọng nói: “Đây là cơ quan dân cử, đại diện cho nhân dân TP., nhưng tôi không thấy đất nước, Tổ quốc ở đâu mà chỉ có ĐCS muôn năm thôi là sao? Đảng chỉ là một bộ phận của nhân dân, không có Tổ quốc, nhân dân thì làm gì có Đảng. Đảng phải đặt Tổ quốc lên trên hết vì vậy tôi đề nghị thây đổi khẩu hiệu này bằng câu CHXHCN Việt Nam. Cả hội trường im phăng phắc. Nhưng ngay kỳ họp sau thì khẩu hiệu Đảng đã thay đổi bằng tên nước.
+Tôi là trưởng ban VHXH HĐND TP khóa 5. Trong các kỳ họp HĐND TP, các ban có bài thẩm dịnh khá công phu. Phải đi thực tế, làm việc với các ngành và sau đó họp toàn ban để thông qua Trưởng ban là người quyết định cuối cùng. Tôi nhớ trong một kì họp, tôi thức suốt đêm sửa chữa, hoàn thiện văn bản để phát biểu trước HĐND. Khi lên phát biểu, nhìn xuống thì không thấy vị phó CT nào dự, kể cả phó CT phụ trách VNXH. Thấy vậy tôi không đọc mà đề nghị ông Huỳnh Đảm, lúc đó là CT HĐND, cho các thư kí, trợ lý điện gấp cho các phó CT, nhất là các phó CT phụ trách VHXH về dự họp. Ban thẩm định chuẩn bị công phu để phân tích những vấn đề, nhất là vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, các vấn đề xã hội khác. Những vấn đề có liên quan thiết yếu đến đời sống nhân dân TP. Khi thầy các phó CT lục tục về họp tôi mới phát biểu bản thẩm định của Ban. Đây là lần đầu tiên các phóng viên báo chí thấy việc này nên rất khoái. Từ đó, kì hôp nào các PCT UBND cũng đều có mặt trừ một số PCT có lý do chính đáng. Cái bệnh chỉ coi trọng Đảng , Thành ủy, xem thường HĐND đã vào máu các vị quan chức của chúng ta.
+Việc thứ ba là cuộc đấu tranh hay có thể nói là đấu khẩu của chủ tịch UBND TP Võ Viết Thanh và tôi về việc có nên dẹp chợ hoa Nguyễn Huệ hay không? Cuộc đấu khẩu gay gắt đến nỗi CT Võ Viết Thanh nói đại ý nếu đ/c Đằng thấy Đảng chật hẹp quá thì xin ra khỏi Đảng. Tôi liền đốp chát lại: đó là chuyện mà tôi và anh sẽ nói trong Đảng còn đây là HĐND. Giữa lúc có nhiều đại biểu đồng ý với tôi, trong đó có Trần Văn Tạo, ủy viên TVTU, phó giám đốc Công an TP, Phạm Phương Thảo, Ủy viên TVTU, phó CT phụ trách VHXH UBND TP thì chủ tọa kỳ họp lại được tin ban TVTU họp và đã đồng ý dẹp chợ hoa TP.. Tôi cương quyết đề nghị có Nghị quyết về vấn đề này nhưng chủ tọa làm ngơ và thông qua NQ ở HĐND TP. Tuy đấu tranh gay gắt như vậy nhưng đối với anh Võ Viết Thanh tôi vẫn tôn trọng tính trung thực, quyết đoán của anh. Lúc đó tôi với tư cách đại biểu HĐND TP có phối hợp với các vị hưu trí Q.6, với Ban quản lý thị trường TP để tố cáo những tiêu cực, sai trái của Giám đốc Đông lạnh Hùng Vương  lúc đó. Phối hợp cuộc đấu tranh này có anh Nguyễn Văn Thắng, ủy viên TV Quận ủy Q.6, Trưởng ban tuyên huấn Q.6. Thắng cũng là dân phong trào SV. Không hiểu sao sau đó có một văn bản có danh sách 12 người gọi là điệp báo của Cục tình báo TƯ trong đó Nguyễn Văn Thắng nằm ở số 7. Lúc ấy anh Nguyễn Minh Triết mới về làm phó bí thư thường trực của TƯ. Tôi gặp anh Nguyễn Minh Triết và trình bày với anh về vấn đề thì anh đề nghị tôi không can thiệp nữa vì danh sách đã có dấu đỏ của đặc ủy tình báo TƯ của Mỹ. Trước đó có người biết chuyện ngụy tạo danh sách nầy và nói danh sách láo được đánh trên giấy Bãi Bằng là giấy chỉ Cộng sản sau 1975. Anh Nguyễn Minh Triết ghi nhận nhưng Nguyễn Văn Thắng vẫn bị giam ở 4 Bạch Đằng. Lúc ấy Q.6 tính lấy lại nhà của Nguyễn Văn Thắng ở Bà Hom, Q.6. Tôi gặp chủ tịch Võ Viết Thanh và đề nghị anh xem xét lại vấn đề này thì anh nói với tôi một cách cương quyết: “Chuyện chính trị của Thắng tôi không biết nhưng chuyện nhà của Thắng tôi bảo đảm không ai lấy được”. Anh giữ lời hứa khi Thắng được giải oan về lại Bà Hom, Q.6 như cũ. Tôi gặp anh Võ Viết Thanh cám ơn anh. Nhân đó tôi hỏi thăm tại sao anh không đi học cử nhân, tiến sĩ như những người khác. Anh cười nói rất Nam bộ: “Tôi không chơi kiểu đó. Nếu tôi học tôi sẽ xin nghỉ làm để đi học thật sự, không như những vị học giả mà bằng thật như hiện nay”. Từ đó quan hệ giữa anh và tôi rất vui vẻ, không còn nhớ gì trận đấu khẩu nảy lửa ở HĐND về vụ chợ hoa Nguyễn Huệ. Sau này anh bị thất sủng vì vụ án Sáu Sứ mà trong quyển “Bên thắng cuộc” nhà báo Huy Đức có nêu.
Tôi nêu những trải nghiệm nói trên để chứng minh rằng trong chế độ này không có chỗ cho người trung thực mà chỉ dành cho những người nói láo, tránh né đấu tranh. Giờ đây chúng ta phải phá vỡ nỗi sợ hãi đó đi để thực hiện một chủ trương cực kỳ quan trọng của nhà cách mạng Phan Châu Trinh: Khai dân trí, chấn dân trí, hậu dân sinh.
Cuối cùng tôi xác định bài viết này chỉ có mục đích là thanh toán, tính sổ cuộc đời của mình, trang trải những nợ còn lại để gửi các vị lãnh đạo Đảng CSVN, để mong các vị “mở mắt” ra mà có sự lựa chọn con đường sống cho dân tộc. Hiện nay xu hướng chạy  theo CN Mác-Lênin CNXH đã lạc điệu, không còn phù hợp nữa và đã sụp đổ tan tành ở ngay quê hương  Xô Viết. Hiện nay là cuộc đấu tranh trên thế giới về dân quyền, dân sinh, dân chủ, tự do, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Nghĩa là đây là cuộc đấu tranh quyết liệt cho con người, vì con người chống lại các thế lực phản động đang âm mưu nô dịch nhân dân, phá hoại môi trường vì những lợi ích kinh tế ích kỷ của các tập đoàn, lũng đoạn nhà nước.
Tôi không tin lắm về sự tự giác của một số nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước sớm thấy tình hình và xu thế phát triển hiện nay để đặt lợi ích của Đất nước, Tổ quốc lên trên hết cần có một giải pháp hợp lý, không vì lợi ích và sự tồn tại của Đảng, của chế độ mà đi ngược lại xu thế phát triển của thời đại hiện nay. Tôi quan niệm rằng,nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là cương quyết đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ, tôn trọng, thực hiện những lý tưởng của biết bao thế hệ cha anh chúng ta về một nước VN hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội, văn minh và giàu mạnh. Một khi xã hội dân sự, xã hội công dân mạnh lên, xã hội sẽ có đủ sức kiềm hãm, ức chế các khuynh hướng độc tài của một nhà nước toàn trị. Trước mắt là phải “chấn dân khí” để không còn sợ hãi các thế lực tàn bạo, không sợ bắt bớ, tù đày. Sau đó là “khai dân trí” và “hậu dân sinh”.
Bài viết nầy cũng là để trải lòng với bạn bè, đồng đội và những nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ, các bạn TNSVHS mà tôi đã quen hoặc mới quen, để khẳng định một điều: -với lòng tự trọng của một công dân một nước có lịch sử hào hùng chúng ta phải hành động. Không nên ngồi tranh luận với nhau về sự đúng, sai khi chọn lựa đứng bên nầy hay bên kia. Vì thật ra cả một bộ phận loài người trong đó có người VN khát khao với một xã hội tốt đẹp hơn, chống lại cái ác, cái xấu nên đã có thời gian dài nuôi ảo tưởng về ĐCS VN và CNXH. Vấn đề là trước đây chúng ta chưa có đủ điều kiện, dữ liệu để nhận thức một số vấn đề sống còn của đất nước; Nhưng hiện nay tình hình trong nước thế giới đã thay đổi, vì vậy chúng ta phải nhận thức lại một số vấn đề trước đây. Nhận thức lại và dấn thân hành động cho cuộc chiến đấu mới. Đừng loay hoay những chuyện đã qua mà làm suy yếu sức mạnh đoàn kết dân tộc. Hãy để con cháu chúng ta làm nhiệm vụ đánh giá lịch sử. Còn chúng ta, trước mắt là hành động, hành động và hành động. Điều này, tôi nói một lần,  rồi thôi…
Viết trong những ngày nằm bịnh ( 8-2013 ).
Lê Hiếu Đằng
-Nguyên phó TTK Ủy ban TƯ LM các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam
-Nguyên phó CT Ủy ban MTTQ VN TP.HCM (từ 1989-2009)
-Đại biểu HĐND TP khóa 4, khóa 5
 
 
 

 

BÀI THƠ CỰ NGAO ĐỚI SƠN – MỘT DỰ BÁO CHIẾN LƯỢC THIÊN TÀI CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM


Nguyễn Khắc Mai
NKM: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi được Chúa Nguyễn Hoàng hỏi kế đã nói: “Hoành Sơn nhất đoái, vạn đại dung thân”, theo đó Nhà Nguyễn đã âm thầm và quyết liệt mở mang đất nước để có một Việt Nam trọn vẹn hình chữ S ngày hôm nay. Với Biển Đông, Cụ Trạng cũng có lời tiên tri, dạy rằng: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ / Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
Trong Bạch Vân Am Thi Tập của  Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài thơ Cự  Ngao Đới Sơn:
Chữ Hán:          鰲   戴  山
                  碧   浸             
                                     
                                     
                                     
                                     
                                     
                                     
                                     
Phiên âm:    Cự ngao đới sơn
                    Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh,
                    Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh.
                    Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực,
                    Trước cước trào vô quyển địa thanh.
                    Vạn lý Đông minh quy bả ác,
                    Ức niên Nam cực điện long bình.
                    Ngã kim dục triển phù nguy lực,
                    Vãn khước quan hà cựu đế thành.
Dịch nghĩa:  Con rùa lớn đội núi
Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đáy,
Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra.
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời,
Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất.
 Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay,
Muôn  năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình.
Ta nay muốn thi thố sức phù nguy,
Lấy lại quan hà, thành xưa của nhà vua.
Xin mạn dịch thơ như sau: Con rùa lớn đội núi
Núi tiên biển biếc nước trong xanh,
Rùa lớn đội lên non nước thành.
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá,
Dầm chân đất sóng vỗ an lành.
Biển Đông vạn dặm dang tay giữ,
 Đất Việt muôn năm vững trị bình.
Chí những phù nguy xin gắng sức,
Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình.
Bài thơ có tuổi đã khoảng 500 năm mà bây giờ  càng đọc càng thấy rất “kim nhật kim thì”, rất thời sự. Ta những tưởng như cụ Trạng Trình đang nói với chính chúng ta hôm nay. Bài thơ nguyên là đễ nói cái chí của cụ ”Chí những phù nguy xin gắng sức” ( Ngã kim dục triển phù nguy lực). Nhưng  lại đọng trong đó một tư tưởng chiến lược một dự báo thiên tài:
“BiểnĐông vạn dặm dang tay giữ, /Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
(Vạn lý Đông minh quy bả ác / Ức niên Nam cực điện long  bình.”)
Vào những ngày này Biên Đông đang trở thành một trường tranh chấp, quyết liệt đầy tính bá đạo, đai Hán, đầy mưu mô và hành động vừa gian ác, vừa xảo quyệt của nước lớn Trung Hoa, đang trong cơn hưng phát, thèm khát không gian sinh tồn, muốn bá chiếm biển Đông. Nào vạch đường lưỡi bò, nào xây dựng thành phố Tam Sa được tính toán xây dựng trên vùng chủ quyền của người khác, nào gọi thầu những lô thăm dò ngay trên vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nào ngang ngược, tàn bạo cắt cáp, rượt bắt tàu thuyền của ngư dân ta đang làm ăn trên vùng biển của nước mình…
Hai câu thơ đầy tính dự báo chiến lược của Nguyễn Bỉnh Khiêm càng lay động từ đáy sâu của ý chí, của tâm hồn cái tâm thức biển đảo của người Việt. Tự ngàn xưa dân Việt đã là cư dân của văn hóa biển-đảo. Vạn dặm biển Đông phải quay về nắm lấy trong bàn tay. Làm được như vậy, mà phải làm được như vậy – làm chủ được biển Đông, thì muôn đời cõi trời, đất nước Nam này sẽ vững vàng trong cảnh thanh bình thịnh trị lớn lao!.
“Biển Đông vạn dặm dang tay giữ /  Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
Đó là lời dự báo thiên tài, là lời truyền dạy của tổ tiên. Nó phải được cảm nhận để hành động trên quy mô của Dân tộc.
Nói quay về giữ trong bàn tay có nghĩa là nói sự làm chủ của mình. Chúng ta sẽ và phải làm chủ biển Đông. Tất nhiên không  thể và không phải với một thứ phản văn hóa, nghĩa là cũng muốn làm chủ với tư tưởng bá quyền, độc chiếm. Tinh thần làm chủ của chúng ta là vừa biết kiên quyết bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình, kiên quyết chống lại sự xâm lăng nước lớn. Mà cũng biết tôn trọng chủ quyền hợp pháp của các nước lân bang Đông Nam Á.
Làm chủ Biển Đông, mà tổ tiên đã truyền dặn, ngày nay phải thể hiện cả ba mặt. Thứ nhất là làm chủ những vấn đề về lịch sử, pháp lý, cả những gì liên quan đến sức mạnh vật chất, tinh thần, để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Thứ hai là phải xây dựng một nền kinh tế biển hoàn chỉnh hữu hiệu. Thứ ba là phát triển khoa học và văn hóa biển. Cả ba lĩnh vực trên là ba khâu liên hoàn, làm tiền đề, nhân quả lẫn nhau. Bảo vệ chủ quyền để phát triển kinh tế biển. Muốn phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền hữu hiệu lại phải coi trọng xây dựng các ngành khoa học biển và văn hóa biển. Đó chính là một năng lực mới của Dân tộc để xây dựng và bảo vệ Đất nước.

 

Lam  Hay Không Làm Chính Trị Cho Quê Hương?

LS Lê Trọng Quát 
July 6, 2013

  • Chính trị là gì ?
  • Làm hay không làm, tham gia hay không tham gia chính trị
  • Chính trị với người Việt ở hải ngoại
  • Chúng ta không thể làm ngơ được nữa
  • Nói với thế hệ trẻ, con cháu Lạc Hồng
«Tôi không làm chính trị». Câu trả lời ngắn gọn đã một thời ở đầu môi của một số người Việt khi được mời hay được kêu gọi tham gia một hoạt động, một công tác liên quan đến cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của Miền Nam Việt Nam trước tháng 05 năm 1975.
Cũng câu trả lời ngắn gọn này được lặp lại bởi số người ấy hay được xử dụng bởi một số người của một thế hệ khác, lâu sau 1975, khi họ được gọi hổ trợ hay tham gia cuộc tranh đấu nhằm dân chủ hóa và hiện đại hóa nước Việt Nam, mang lại tự do cho mọi người, công bằng trong xã hội, để xây dựng một vận hội mới tươi sáng cho quê hương của họ.
Cả trong hai giai đoạn trước và sau 1975, câu trả lời cô đọng này hàm súc một ý nghĩa lớn, mang lại những hậu quả lớn và vì vậy cần được bàn đến một cách nghiêm chỉnh, tương xứng với tầm quan trọng của nó.
«Tôi không làm chính trị» là gì ? Và ngược lại, « Vì sao tôi làm chính trị, tôi tham gia chính trị ?» như nhiều người khác quả quyết. Ở đây, tôi muốn hiểu tham gia chính trị là làm chính trị dưới một hình thức và trong một phạm vi nào đấy, chứ không có môt sự phân biệt nào đáng kể giữa hai cụm từ này.
I – Chính trị là gì?
Nhưng trước hết, chính trị là gì mà người thích kẻ không như vậy. Được định nghĩa khá rõ ràng ở các quốc gia nhưng ngay ở những nước có văn hóa cao, người ta vẫn có những nhận thức đôi lúc khác nhau về từ ngữ này. Chúng ta sẽ không để mất quá nhiều thì giờ cho việc định nghĩa từ ngữ mà chú trọng đến sự lựa chọn một thái độ, của người Việt ở trong nước hay đang ở nước ngoài : làm chính trị hay không làm chính trị.
Chính trị bao gồm một lãnh vực hết sức rộng lớn như nhiều người hiểu và các tự điển đông tây đều gần cùng một định nghĩa.
Trước hết, chính trị là mọi việc liên quan đến công cuộc trị nước an dân. Trong một phạm vi rộng hơn, chính trị là các tương quan giữa nhiều quốc gia, giữa các quốc gia và các định chế quốc tế.
Chính trị cũng là các hoạt động liên quan đến công vụ trong một nước. Các lý thuyết tổ chức một quốc gia, các thể chế, các chủ nghĩa, các cương lĩnh của các chính đảng đều ở tuyến đầu của địa hạt chính trị.
Nhưng chưa hết, chính trị còn là một khoa học, một nghệ thuật chuyên về việc quản trị một quốc gia, tham gia hay điều khiển một chính phủ, chính trị cũng là tổng hợp những sự cố của một nước : tình hình chính trị, sinh hoạt chính trị, bối cảnh chính trị, nền chính trị v.v….
Theo ngôn từ mác-xít, chính trị là phần chính của thượng tầng kiến trúc(superstructure) (1), gồm những chủ thuyết và cơ cấu đầu não của một quốc gia xây dựng trên hạ tầng cơ sở (infrastructure) qui tụ những lực lượng và tương quan sản xuất tạo thành căn bản vật chất của xã hội. Tách khỏi cái ngôn từ sặc mùi đối đầu giai cấp này, hạ tầng cơ sở là hệ thống đường sá, cầu cống, phi trường, hải cảng….tất cả những phương tiện và cấu trúc dùng cho việc giao thông vận tải và rộng hơn cho sự hoạt động của một nền kinh tế quốc gia.
Tóm lại, ít có một từ ngữ nào rộng nghĩa hơn từ ngữ chính trị, bao trùm nhiều lãnh vực quan trọng liên quan đến một quốc gia, các định chế quốc tế và cả thế giới nói chung.
II – Làm hay không làm, tham gia hay không tham gia chính trị

Định nghĩa rộng rải và rõ ràng của từ ngữ chính trị được thông dụng và chấp nhận khắp nơi, làm sáng tỏ vấn đề tham gia hay không tham gia, làm hay không làm chính trị, đối với môt người trong cộng đồng, trong quốc gia của họ, trong thế giới (chính trị quốc tế), và đặc biệt đối với chúng ta, người Việt ở trong nước hay người Việt đang ở hải ngoại vì bất cứ môt lý do gì. Đặc biệt vì chúng ta là một trong vài dân tộc bất hạnh nhất trên địa cầu, đã phải chịu đựng một cuộc chiến tranh lúc ác liệt, lúc tạm ngưng, ròng rã ba mươi năm trời rồi , tiếng súng lặng im, chịu đựng tiếp một chế độ hà khắc từ ba mươi năm nay và giờ đây thiết tưởng đã đến lúc cần phải thay đổi.
Thế nhưng, trước khi đề cập đến chuyện của chính chúng ta, hãy tìm hiểu vì sao vấn đề làm hay không làm chính trị, tham gia hay không tham gia chính trị cũng được đặt ra ở khắp nơi trên thế giới. Tìm hiểu vì, ngoài những lý do riêng của chúng ta, các lý do khác đều chung chung giống nhau, loài người vẫn được mệnh danh từ lâu là những “con vật chính trị“.
Thật vậy, với định nghĩa vừa trình bày, không ít thì nhiều, ở nước nào cũng vậy, ai cũng tham gia chính trị, trực tiếp hay gián tiếp, dưới hình thức này hay hình thức khác, qua những hành động trong cuộc sinh hoạt hằng ngày. Ai cũng có những quan hệ ràng buộc mình với xã hội, với quốc gia của mình, những bổn phận cũng như những nhiệm vụ.
Hành sử những quyền công dân trong một nước dân chủ như bầu cử , ứng cử vào các chức vụ dân cử là một thể hiện rõ rệt nhất của sự tham gia chính trị. Đại đa số dân chúng các quốc gia dân chủ tham gia việc nước qua hình thức thông dụng này.
Tranh đấu chống lại gian lận bầu cử, đòi hỏi quyền ứng cử, công khai vận động cho một hay nhiều ứng cử viên tức là làm chính trị, dấn thân chính trị, phục vụ và bảo vệ nền dân chủ của quốc gia. Không có những thành phần năng động và can đảm này, nhiều nước kém mở mang đã có thể trở thành nạn nhân của những chế độ độc tài hay không thoát khỏi được các chế độ quân phiệt. Sự biến đổi quan trọng trong chiều hướng dân chủ hóa ở Châu Mỹ la-tinh trong ba thập niên vừa qua là một bằng chứng không chối cải được của sự kiện lịch sử này.
Phát biểu một ý kiến, xác định một lập trưòng về một vấn đề liên quan đến quyền lợi của xứ sở, của dân tộc, của cộng đồng thế giới là tham gia chính trị bằng sự bày tỏ một tư tưởng, một quan điểm của một người dân trong một nước dân chủ, tự do.
Hoạt động trong một tổ chức, một đoàn thể, một đảng phái chính trị tức là làm chính trị với mức độ dấn thân (engagement, commitment) để thực hiện và phục vụ một lý tưởng, một hoài bảo, một mục đích vượt lên trên quyền lợi cá nhân của mình. Sự cấu tạo một nền dân chủ đích thực bắt nguồn từ đây vì sự học hỏi và thực tập dân chủ đã được diển ra phần lớn trong khu vực, trong môi trường chủ yếu này.
Giữ một trọng trách trong chính quyền, tham dự chính phủ, là làm chính trị bởi sự san sẻ quyền hành và thụ lãnh trách nhiệm trước những cơ cấu đại diện quốc dân. Nói chung, khi con người đã tiến đến thời kỳ tổ chức sinh sống thành một cộng đồng một xã hội, một quốc gia thì hầu hết đều tham gia chính trị để góp phần của mình vào sự tồn tại và phát triển của quốc gia mình. Tham gia tích cực, tham gia với ý thức sâu xa hay nhiều lúc tham gia mà không biết hay không cần biết mình tham gia vì trong nhiều trường hợp một sự tán đồng hay bất đồng, hay ngay cả sự giử im lặng trước một hành vi một sự cố xảy ra trong nước hay trong thế giới đã là một thái độ chính trị, nghĩa là một sự tham gia ở một mức độ nào đấy, công khai hay âm thầm, lặng lẽ.
Bên cạnh sự tham gia chính trị của đại đa số, cố nhiên còn lại những người không muốn “dính” đến, không muốn liên hệ đến bất cứ việc gì ngoài chuyện “làm ăn” sinh sống của họ và chủ trương đóng kín cửa với thế giới bên ngoài. Họ chỉ cần sống với họ trong cái võ ốc mà họ tin là kiên cố, mặc cho “thời tiết“ xã hội, chính trị bên ngoài đổi thay sau bức tường cách nhiệt mong manh, giả tạo. Trong cái thế liên lập (interdépendance, interdependence) của các quốc gia ngày nay, một nước không thể tự tách riêng ra để tồn tại một mình được thì một cá nhân càng không thể tự giam mình trong cái vũ trụ tí hon của mình được. Vươn ra khỏi cái phạm vi hạn hẹp của mình, kết hợp với xã hội chung quanh mình, san sẻ những mối lo chung, những hy vọng chung, thực hiện những dự án, những công cuộc lợi ích chung, chia xẻ những ngọt bùi chung, đấy là tham gia chính trị, làm chính trị. Và chính cái năng lực chính trị tổ chức được thành xã hội, thành quốc gia đã tạo nên sự phân biệt lớn lao giữa con người và con vật dù cả hai đều là những sinh vật, một thời xa xưa trong tiền sử không khác gì nhau mấy.
Thế nhưng, qua bao nhiêu thời đại, từ khi ý thức chính trị còn sơ đẳng cho đến khi phát triển đến cao độ, sáng tạo nên những qui luật trị nước an dân thì bên cạnh những người làm chính trị tốt có lý tưởng, năng lực và đạo đức đã góp phần vào những công trình xây dựng nên sự hưng thịnh của quốc gia, phúc lợi cho thế giới thì cũng không thiếu những chính trị gia hoạt đầu, những kẻ lợi dụng lòng tin của dân chúng gởi gắm nơi mình, những kẻ dùng bạo lực tranh đoạt quyền thế hảm hại đồng bào, những kẻ dùng tà thuyết lường gạt nhân dân, những kẻ bất lương tham nhũng hợp tác với những kẻ tòng phạm “không làm chính trị“ nhưng biết làm tiền bằng mọi cách kể cả bán rẻ lương tâm và danh dự.
Từ xưa đến nay, từ Âu sang Á, ở các nước độc tài cũng như ở các nước dân chủ, phường chính trị gia kể trên không thiếu. Đành rằng trong nghề nào và ở bất cứ đâu cũng có “con sâu làm rầu nồi canh” nhưng con sâu trong nồi canh chính trị càng lớn mạnh, hậu quả càng tai hại cho một xã hội, một quốc gia. Thành kiến bất lợi của một số người dành cho người làm chính trị và cho cả việc chính trị theo nghĩa họ hiểu, bắt nguồn một phần lớn từ loài sâu bọ này.
Nhưng không phải vì hiện tượng sâu bọ này mà sự tham gia chính trị, sự dấn thân chính trị giảm bớt hào quang, một vầng hào quang kết hợp bằng lý tưởng phục vụ công ích, bằng sự chấp nhận và thực thi những dòi hỏi khắt khe về đạo đức, bằng những nỗ lực làm việc và phục vụ một chính nghĩa, bằng những đóng góp và hy sinh vật chất và tinh thần, bằng sự chấp nhận những hiểm nguy không thiếu, tất cả cho sự thành công của một đại cuộc. Tham gia chính trị, làm chính trị là chấp nhận một thách đố chống nghịch cảnh, vượt ra khỏi cái tôi nhỏ bé của cá nhân mình, hoà mình với mọi người để cùng nhau phục vụ cho cộng đồng, cho xứ sở của mình, cho thế giới mà mình và đất nước của mình phải là một thành phần xứng đáng và hửu ích có khả năng mang lại phần đóng góp chứ không chỉ ngửa tay xin xỏ suốt đời.
Tham gia chính trị, làm chính trị là tự ý gánh lấy một phần trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc, chống lại thái độ đứng ngoài cuộc, đóng vai trò “quan sát viên vô tư “ trong lúc đối tượng được quan sát chính là xứ sở, quê hương mình đang ở trong cơn hoạn nạn và đang khẩn thiết cần đến mình để vượt thoát và vươn lên.
Lâu trước 1975, trong thập niên năm mươi, thành phần“trùm chăn này“ đã được ngụy trang dưới nhiều hình thức để che đậy sự nhát sợ của một số người, làm giảm thiểu phần nào khả năng chống Cọng để bảo vệ tự do lúc bấy giờ. Họ không thích cộng sản, họ lo sợ cộng sản chiếm hết Miền Bắc (trước hiệp định Genève tháng 07, 1954 lực lượng Cộng sản còn được gọi là Việt Minh chỉ chiếm giữ một phần lãnh thổ ở thôn quê và một số ít tỉnh ở Miền Bắc và Miền Trung) và Miền Nam Việt Nam nhưng họ không tham gia chính trị vì sợ mang màu sắc chống Cộng, có thể bịết đâu một ngày nào đấy bị trả thù. Tiếc thay cho họ, sự khôn ngoan và phòng xa chu đáo không giúp họ tránh khỏi cảnh ngộ chung của toàn dân, năm 1954 đất nước phân đôi, một triệu người di cư từ Bắc vào Nam và từ tháng tư đen năm 1975 hàng triệu người kể cả họ phải rời bỏ quê hương, lần lượt ra đi khắp bốn phương trời …
III – Chính trị với người Việt ở hải ngoại.
Khi nói với người Việt ở hải ngoại về vấn đề này, tôi muốn ám chỉ tất cả những người gốc Việt hiện ở ngoài Việt Nam, dù họ mang quốc tịch nào, miễn là họ còn tưởng nhớ đến quê hương, trung thành với nguồn gốc và còn ấp ủ trong lòng tình đồng bào Việt Nam ruột thịt. Và cũng trong phạm vi mở rộng của vấn đề “ làm gì cho quê hương“, tôi sẽ không phân biệt những người ra đi trước hay sau 1975 vì những lý do có thể giống nhau , có thể khác nhau tùy theo hoàn cảnh, tùy theo trường hợp của mổi người, mổi gia đình, và tùy theo tình thế biến chuyển không ngừng của đất nước trong hơn nửa thế kỷ khổ nạn với mấy lần vật đổi sao dời.
Lắm lúc trong một cuộc đời, người ta không làm chủ được số phận của mình. Nhưng điều quan trọng là cố gắng tối đa, không vội nản lòng trước khó khăn trở ngại, không chỉ biết lo cho mình mà còn phải san sẻ nổi lo chung của dân tộc.
Tôi muốn dành vài hàng ngắn ngủi để nhắc lại sơ qua một việc nhỏ nhưng có ý nghĩa tương tự như câu chuyện ngày hôm nay, tại mục này: chính trị với người Việt ở hải ngoại. Hoàn cảnh có khác nhau và nhiều năm tháng đã trôi qua nhưng câu chuyện như mới diễn ra ngày nào vì nhiều người trong cuộc vẫn còn đây như giáo sư Lê Mộng Nguyên và nơi hội họp vẫn còn đó, nguyên vẹn ở đường Monge, quận 5 thành phố Paris. Tôi đến thủ đô nước Pháp một ngày đầu thu 1959, chỉ một mình sau khi phái đoàn Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa mà tôi là một thành viên rời Nhã Điển (Athènes) thủ đô của Hy Lạp và hội nghị Liên Hiệp Quốc Tế Nghị Sĩ vừa bế mạc. Mục đích duy nhất là nói chuyện, đúng hơn là tranh luận, với sinh viên Việt Nam mà một số đáng kể là thân Cộng hay đảng viên cộng sản thật sự trong tổ chức Liên Hiệp Việt kiều. Thời ấy, các sinh viên này rất hung hãn nhất là đạo luật về an ninh quốc gia vừa được ban hành ở Miền Nam để trừng trị các hoạt động phá hoại, khủng bố. Mặt Trận giải phóng Miền Nam thành hình sau đấy. Công tác này chỉ là một sáng kiến của tôi, một hành động tự nguyện và được Tổng thống Ngô Đình Diệm chấp thuận. Tôi muốn thực hiện một cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa những người Việt ở trong nước và ngoài nước, đặc biệt giữa những người trẻ dấn thân ở bên này và bên kia chiến tuyến, với sự mong ước, có lẽ là tham vọng, thuyết phục những người trí thức trẻ tuổi đang nghiêng về phía bên kia trở về với chính nghĩa quốc gia, trở về với lý tưởng tự do dân chủ.
Còn là một thanh niên chưa đến ba mươi tuổi lớn lên giữa thời tao loạn, tôi đã và đang làm nhiều nghề (giáo sư, luật sư, chủ bút và chủ báo,….) và cũng đã trải qua nhiều thử thách, tù đày, gian khổ. Có lẽ nhờ vậy chăng mà tôi đã quen và vẫn muốn đương đầu với nghịch cảnh thay vì tránh né khó khăn miễn là phục vụ được lý tưởng của mình.
Sau khi đắc cử Dân Biểu quốc hội và được bầu vào các chức vụ Phó Trưởng Khối Liên Minh Xã Hội (từ năm thứ hai của pháp nhiệm, tôi làm Trưởng Khối) và Chủ Tịch Ủy Ban Lao Động- Xã Hội-Y Tế ( từ năm sau, tôi lần lượt giử chức vụ Chủ Tịch các Ủy Ban Nội Vụ, Quốc Phòng), tôi nhận thấy cần thừa dịp phó hội ở Hy Lạp,sang thẳng Paris để thực hiện một công tác “giải độc” ở hải ngoại chắc chắn không phải là dễ dàng vì ai cũng biết nơi đây là trung tâm hoạt động mạnh nhất của Cộng sản Việt Nam ở Âu Châu, đặc biệt của giới sinh viên và thợ thuyền Việt kiều trong tổ chức Liên Hiệp Việt kiều thời ấy.
Tôi đã thảo luận công khai, trực tiếp với các sinh viên đủ mọi thành phần, quốc gia, thân Cọng, cộng sản thực sự, thảo luận mọi vấn đề liên quan đến tình hình đất nước, đời sống của sinh viên, thảo luận trên căn bản mà tôi đề nghị: quyền lợi chung của xứ sở và tình tự dân tộc. Vì giới hạn của bài này và vì không phải chổ nên tôi không thể kể lại chi tiết ở đây nhưng có thể tóm tắt là buổi họp rất sôi nổi, “phe “ thân Cộng và Cộng không áp đảo được như họ vẫn thường làm trong các vụ hội thảo mà cuối cùng họ chịu lặng im thấy rõ.
Đại Sứ VNCH, bác sĩ Phạm khắc Hy mời tôi ở lại Pháp ít lâu để tổ chức những buổi thảo luận tương tự ở các tỉnh nhưng tôi phải về nước vì nhiều công việc đang chờ đợi tôi.
Bao nhiêu nước đã chảy qua dưới cầu từ độ ấy. Một cuộc đổi đời đã diễn ra. Ngược lại với sự thay đổi vị thế trong nước mà anh bộ đội ở rừng rú và tên cán bộ công an nằm vùng ở Sài gòn đã trở thành cảnh sát chỉ đường giao thông của thành phố tạm thời mang tên “bác”, tại hải ngoại, trên toàn khắp thế giới, con cháu của “ bác” biến đâu mất, kể cả các đại diện ngoại giao cũng núp lén cố thủ trong các công ốc của nhiệm sở.
Họ cẩn thận tránh né cũng phải vì ba triệu người Việt ở khắp nơi không thích họ, nhiều người còn hận thù, chuyện rủi ro có thể xảy ra cho họ nếu ai đó thổi mạnh hòn than đỏ ấp ủ dưới lớp tro tàn mỏng manh. Mất chính quyền, mất chủ quyền ở trong nước bởi bạo lực của một cuộc xâm lăng trắng trợn, ngược lại ở ngoài nước, dân Việt Nam đã thành công lớn, đã thắng lợi lớn trong cả hai phạm vi tinh thần lẫn vật chất.
Từ Mỹ Châu, Úc Châu đến Âu Châu, Á Châu, cộng đồng người Việt quốc gia đã hiên ngang công khai làm sáng tỏ trở lại trước công luận thế giới, chính nghĩa của cuộc đấu tranh bị hiểu lầm và bị xuyên tạc trước đây bởi đạo quân thứ năm của cộng sân quốc tế, bởi những trí thức và ngụy trí thức tả khuynh ở Tây phương, đặc biệt trong giới truyền thông đại chúng, báo chí và truyền hình của Hoa kỳ, của Tây Âu, nghĩa là của cái được mệnh danh là Thế giới Tự do (!) thời bấy giờ.
Tại Hoa Kỳ, lần lượt gần bảy-mươi thành phố ở khắp các vùng trong Liên bang chính thức công nhận lá cờ quốc gia Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của cộng đồng người Việt trong lúc vài thành phố quan trọng có đông người Việt ở Nam California quyết định không bảo đảm an ninh cho các viên chức của chính quyền Hà Nội mà họ khuyến cáo không nên lai vãng đến. Hành động có ý nghĩa đặc biệt này quả thật là hiếm hoi trong lịch sử bang giao quốc tế mà Hoa Kỳ muốn dành cho người Việt định cư trên đất nước của họ để bày tỏ sự tôn trọng của họ đối với sự lựa chọn chính trị hàng đầu của người Việt bất chấp qui lệ nếu không phải là qui ước ngọai giao.
Cộng đồng người Việt mà đại đa số là đồng bào tỵ nạn cộng sản và con cháu của họ, lớn lên hoặc sinh trưởng tại hải ngoại, đã thành công rực rỡ trên đất tạm dung. Tư cách, tài năng của người Việt đều được công nhận khắp nơi. Tỷ lệ học giỏi ở trung học và đại học ở Hoa Kỳ cũng như ở Âu Châu ngang với hoặc cao hơn tỷ lệ của dân bản xứ trong lúc tỷ lệ tội phạm ít hơn hẳn so với mọi sắc dân khác. Khoảng ba trăm ngàn chuyên viên đủ ngành đang hoạt động, lợi nhuận tương đương với dân bản xứ cùng trình độ.
Nhưng một điểm đáng chú ý- và cũng là một vấn đề cần xét lại – là trong năm vừa qua người Việt ở hải ngoại đã gửi hoặc mang về nước ba tỷ đô la Mỹ, bằng tổng số ngoại viện và quan trọng hơn nữa là bằng tiền mặt. Riêng khu vực thành phố Sài – gòn củ đã chiếm hơn một tỷ tám trăm triệu. Một vấn đề cần xét lại vì ngoài những trường hợp trợ giúp nhân đạo hay bà con, bạn hữu túng thiếu cần giúp đỡ, chúng ta không thể cung ứng phương tiện nuôi dưỡng một chế độ độc tài, độc đảng, tham ô nhũng lạm, áp bức, bất công, Một chế độ đang bị thế giới văn minh lên án, môt chế độ mà chính những người cộng sự còn lương tri, những nhà trí thức trong nước, những cựu đảng viên cộng sản cao cấp đã thức tỉnh, những nông dân nghèo khổ ở châu thổ sông Hồng, những đồng bào sắc tộc ở Cao Nguyên thậm chí đến những chiến binh đã chiến đấu hy sinh cho chế độ suốt một cuộc đời, tất cả đã chống đối công khai, không sợ hãi, không lùi bước. Vì tất cả đã đi đến giới hạn cuối cùng của khả năng chịu đựng, của sự nhẫn nhục và trên hết, vì tất cả đã nhận thức nguy cơ của một quốc gia đang thoái hóa với các giá trị tinh thần đạo đức truyền thống của dân tộc bị suy sụp trước sự đăng quang thách thức của thế lực kim tiền,, một thứ kim tiền thủ đắc một cách bất chính và bất lương trên thảm cảnh của đại đa số sống chật vật dưới rất xa mức nghèo khổ.
Đồng bào chúng ta ở hải ngoại lẽ nào làm ngơ trước đồng bào ruôt thịt trong nước đang bị gọng kềm của chế độ xiết chặc, lẽ nào im lặng trước những người bất chấp đe dọa hiểm nguy đang đứng lên tranh đấu cho tự do, dân chủ và quyền sống xứng đáng của con người.
Con người của thế kỷ hai-mươi-mốt mà đời sống đang được phát triển toàn diện, tinh thần và vật chất, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay, con người mà dân Việt đang mơ ước và có quyền mơ ước được như vậy. Chính bạn ở hải ngoại là con người ấy mà đồng bào ruột thịt của bạn ở quê hương đang mơ ước.
Bạn đang ở Hoa Kỳ, nước giàu mạnh nhất thế giới, với tổng sản lượng nội địa tính theo đầu người (produit intérieur brut par personne PIB – gross domestic product per capita GDP) là 44.469 đô-la hay 34.207 euros tinh theo mãi lực (parité du pouvoir d’achat PPA , purchasing power parity PPP), bạn đang ỏ Âu Châu, khu vực đồng euro với 31.035 đô-la Mỹ hay 23.874 euros theo những con số chính thức vào tháng giêng 2005 của những cường quốc phát triển nhất. Trong cùng lúc, bà con của bạn ở quê nhà có lợi nhuận trung bình một năm tính rộng nhất vẫn dưới 500 đô – la Mỹ, thấp khoảng sáu lần lợi nhuận trung bình của người dân Thái Lan kế cận và thấp hơn nhiều lần nữa so với lợi nhuận của người dân Đại Hàn, Đài Loan, khỏi phải sánh với ngưòi dân xứ Hoa Anh Đào mà lợi nhuận (33.165 đôla Mỹ) cao gấp bảy-mươi lần lợi nhuận của dân ta ! Cùng một giống người “da vàng mũi tẹt”, cùng sinh sống trên miền Đông Á, họ đã vượt Việt Nam ngày nay quá xa trên mọi lãnh vực, văn hóa, chính trị, khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội …và không một ai trong bọn họ muốn tranh dành cái “đỉnh cao của trí tuệ loài người “ mà các vị lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt đã, không cười rởn và rất nghiêm chỉnh, tự gán cho mình vào cuối thập niên bảy-mươi khi họ hoàn tất sự nghiệp cách mạng vĩ đại đưa dân tộc Việt Nam trở về thời đại đồ đá!
Từ cái hố sâu xa cách lợi nhuận thăm thẳm này, chúng ta không còn phải ngạc nhiên trước tình trạng cơ cực của đại đa số đồng bào ở khuất lấp trong nông thôn và trong xó hẻm của các đô thị. Một tình trạng không thể che đậy được bởi cái bề ngoài hào nhoáng và đồ sộ của các khách sạn quốc tế, những tiệm ăn sang trọng mùi vị thơm ngon, những khiêu vũ trưòng rực rỡ ánh đèn màu, tất cả dành cho người ngoại quốc , một số ít Việt kiều giàu có về thăm quê (số đông không đến được những nơi này vì quá đắt ngay đối với họ) và đặc biệt cho các nhà “tư bản đỏ “, cán bộ cao cấp của “đảng ta “ và những kẻ làm ăn với chúng. Trên vỉa hè trước mặt, các em bé đang tranh nhau xin tiền và xin ăn chút dư thừa! Xa hơn, kín đáo hơn, các em bé khác đang phải bán mình để nuôi thân và nuôi cha mẹ, những bậc sinh thành đã không tìm ra được việc làm để nuôi con, đành phải ăn vội bát cơm chan nước mắt tủi nhục với con, căm hờn với chế độ đã tạo nên cuộc đổi đời nhục nhã, tang thương này. Xa hơn nữa, ở nước láng giềng Căm-Bốt, có những em bé Việt mới tám tuổi hoặc lớn hơn nhưng vẫn còn vị thành niên đã được cha mẹ bán đi hoặc đưa đến đây hiến dâng trinh tiết rồi hành nghề mãi dâm để nuôi gia đình. Và càng xa hơn nữa, ở tận Trung Đông, ở Đông Âu, ở tận Đại Hàn, Đài Loan v.v….nhiều bà mẹ Việt Nam đã được xuất cảng lao động đến đấy để làm người giúp việc ở tư gia, một số còn bị lợi dụng tình dục, đau xót tủi nhục đến tột cùng, thương nhớ chồng con không kể xiết nhưng họ không còn sự lựa chọn nào hơn giữa ra đi để kiếm sống, và ở lại để cả gia đình cùng khốn đốn vì khó kiếm được việc làm. Người phụ nữ Việt lại còn phải trải qua những ngày đen tối khác khi nhiều thiếu nữ vì nghèo khổ phải chấp nhận lấy chồng để cha mẹ được một số tiền nhỏ – vài trăm đô la Mỹ- rồi theo chồng về Trung Hoa hay Đài Loan sống như tôi tớ trong nhà chồng hoặc trong một số trường hợp bị ép làm những điều đồi phong bại tục.
Tình trạng chính trị , kinh tế, xã hội, vừa được tóm lược không phải để bêu xấu một chế độ vì chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã không thể dấu diếm che đậy gì được nữa mà chỉ để nhắc nhở và kêu gọi đồng bào Việt ở hải ngoại làm một cái gì cho quê hương, cho đồng bào ruột thịt trong nước, cho tương lai của dân tộc.
IV – Chúng ta không thể làm ngơ được nữa
Cùng nhau chúng ta phải chung sức vận dụng khả năng tối đa của mình để tranh đấu cho sự phục hồi tự do, dân chủ, cho sự tôn trọng nhân quyền, cho sự tôn trọng tự do tín ngưỡng và hành đạo của các tín đồ, hoàn trả vô điều kiện tài sản của tất cả các giáo hội Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Phật Giáo Hoà Hảo, Cao Đài Giáo, Đạo BàLa Môn …
Chúng ta phải tranh đấu tại hải ngoại bằng mọi cách hửu hiệu nhất, công khai hay tiềm ẩn, trực tiếp hay gián tiếp,cả bề rộng lẫn bề sâu,để công luận thế giới công khai nhìn nhận tình trạng của một dân tộc tám-mươi triệu người bị khống chế và đàn áp bởi một chế độ độc tài, độc đảng xây dựng bằng bạo lực, một dân tộc trong suốt ba mươi năm nay, kể từ ngày Cộng sản Bắc Việt thôn tính Miền Nam Việt Nam, không được biết một cuộc bầu cử tự do và trung thực nào cả. Một sự nhìn nhận và theo dõi của thế giới, tạo áp lực mạnh trên chế độ, mở đường lúc cần thiết cho một sự can thiệp như thế giới đã từng can thiệp và sẽ can thiệp ở nhiều nơi mà dân chúng trong nước bị đàn áp bởi chính quyền của nước họ.
Chúng ta phải hổ trợ tối đa các hoạt động của đồng bào trong nước đòi hỏi tự do, dân chủ, đặc biệt của những nhà trí thức, những người cộng sản củ đang thất vọng và phẫn uất với chế độ đã phản bội họ, những nông dân ở Miền Bắc đã đứng lên chống lại cán bộ cướp ruộng, cướp đất của họ và đánh đuổi bọn Công An đến giải tán họ.
Trước cái khí thế đáng khâm phục của đồng bào đang dâng lên chống lại cường quyền, chúng ta phải ngăn tránh mọi hành động vô tình hay gián tiếp tiếp tay củng cố một chế độ đã và đang tận tình khai thác cái thân thể đã héo mòn và suy nhược của Đất Nước cho cái túi tham không đáy của những kẻ cầm đầu và thừa hành của chế độ.
Chúng ta không để cho Cộng sản Hà Nội biến chúng ta thành một loại con tin chỉ vì chúng ta muốn về thăm quê hương. Nếu vì những lý do gia đình hết sức đặc biệt mà phải về trong một thời gian ngắn thì mổi một người trở về ấy phải tìm mọi cách thuận lợi và hửu hiệu nhất để thông báo cho đồng bào trong nước biết rằng nhiều cường quốc và lực lượng dân chủ trên thế giới đang tố cáo và cảnh cáo nghiêm khắc chính phủ Hà Nội về những chánh sách và hành động thô bạo vi phạm dân quyền và nhân quyền, kiểm soát chặc chẻ và đàn áp các tôn giáo. Các cường quốc và lực lựng dân chủ này đứng đầu là Hoa Kỳ sẽ không ngần ngại tiếp tay hổ trợ cho các dân tộc đứng lên tranh đấu cho tự do dân chủ của họ như Tổng Thống Georges W. Bush đã tuyên bố long trọng để mở đầu nhiệm kỳ thứ hai này của ông.
Hơn bao giờ hết, đồng bào Việt ở hải ngoại phải đóng góp công của, năng lực, tài trí của mình vào sự nghiệp xây dựng một vận hội mới tự do, dân chủ, hoà bình và tiến bộ cho Quê Hương .Hơn lúc nào hết, chúng ta phải cảnh giác trước các mưu mô, các thủ đoạn của Cộng đảng nhằm lung lạc tinh thần, chia rẻ hàng ngũ chúng ta.
Chính nghị quyết hớ hênh số 36 của bộ Chính trị Cộng đảng Hà Nội đã tự vạch trần các âm mưu ấy khi đưa ra những luận điệu tuyên truyền nịnh bợ rẻ tiền đối với Việt kiều đồng thời xen lẫn một lời hù dọa trẻ con lỗi thời và lạc chổ với những người chống lại họ đang ở nước ngoài và là công dân của các nước ấy ! Và rất đỗi lạ lùng khi họ đòi giúp đỡ cho Việt kiều , hầu hết ở Âu Mỹ, nơi mà người dân có lợi nhuận trung bình từ sáu-mươi-lăm đến một trăm lần nhiều hơn lợi nhuận của đồng bào ta ở quê nhà, mà Đảng ta và Nhà Nước ta không hề đếm xỉa đến và đành đoạn bỏ quên.
V – Nói với thế hệ trẻ, con cháu Lạc Hồng
Trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, ngoài sự thành công của các bậc cha anh, thế hệ trẻ trên dưới ba mươi đã làm rạng danh cho dân tộc Việt ở Âu Châu cũng như ở Mỹ Châu, Úc Châu trên phương diện học vấn và cũng đã hội nhập khá dễ dàng các quốc gia nơi họ trưởng thành.
Tôi muốn nói thêm vài lời với các bạn trẻ ấy, với thế hệ lớn lên hoặc sinh trưởng ở hải ngoại. Nói thêm vì các cháu chưa biết nhiều hay chỉ biết quê hương qua những tin tức của báo chí và cac phương tiện truyền thông khác, qua những lời kể lại của những người nào đấy, cố nhiên với những nhận định của họ, có thể phản ảnh đúng sự thật, có thể không vì thiếu tính khách quan. Hoặc có thể các cháu có về thăm quê hương nhưng chưa đi đến nhiều nơi trong nước mà chỉ có thì giờ thăm vài thắng cảnh, vài di tích lịch sử, thăm bà con và sống vài hôm ở vài đô thị lớn như Hà Nội, Sài Gòn, v.v … Nhưng các cháu không có đủ thì giờ và người hướng dẫn để quan sát tận nơi và nhiều nơi, đời sống thực, kham khổ, của nhiều giới đồng bào, xa cách và tương phản với cảnh tượng phồn hoa, thịnh vượng giả tạo, bề ngoài, phô trương lố bịch như một sự thách thức không kiềm chế và kiêu căng đối với thân phận hẩm hiu của đại đa số, của quảng đại quần chúng , nghĩa là của hơn bảy-mươi triệu người tức hơn 87 % tổng số dân tám-mươi triệu người trong nước.
Mười triệu người may mắn hầu hết ở thành thị, một ít ở nông thôn, gồm ở đỉnh cao nhất, giới “tư bản đỏ “ giàu từ vài chục triệu đến nhiều trăm triệu đô la Mỹ. Các nhà tư bản này là các cấp lãnh đạo đảng Cộng sản và Nhà Nước, các cán bộ có quyền thế và đía vị trong suốt hệ thống dọc và ngang của chính quyền và trong các xí nghiệp quốc doanh. Bên cạnh tư bản đỏ là giới tư bản “vòng ngoài” chỉ đường mách nước, cộng tác làm ăn chia phần, cũng giàu có như tư bản đỏ.
Không như các cháu ở nước ngoài phải cố gắng học hành,xin trợ cấp, học bổng, vay mượn và nhiều lúc phải làm việc thêm đặng có đủ tiền “ăn học“ở bậc đại học, không thiếu các con cháu của các nhà tư bản nói trên đang ở bậc trung học phổ thông đã được gửi đi du học ở Âu Mỹ, tiêu xài không giới hạn, vượt hẳn con nhà giàu ngoại quốc, như muốn trả thù cho thời kỳ bố mẹ còn là vô sản thứ thiệt, một thời kỳ mà họ không dám nhắc đến nữa vì sợ bị các đồng chí củ lên án phản bội lý tưởng và bỏ rơi hàng ngủ !
Trong lúc ấy, tại Thái Bình ổ Miền Bắc, Quảng Nam ở Miền Trung, Cà Mâu ở tận cuối Miền Nam và khắp các nơi khác, nhiều chục ngàn em bé đang còn ở bậc tiểu học đã phải bỏ học trong niên khóa 2004-2005 này vì cha mẹ các em không “ chạy “ ra tiền để đóng góp cho trường!
Các cháu đang ở kinh đô ánh sáng Paris, các cháu đang làm việc ở trong một toà nhà chọc trời lộng lẫy ở New York hay Chicago , làm sao các cháu quên đành đi được các em bé đáng thương này và các em bé khác đang ăn xin trước các khách sạn, đang chạy theo xin tiền các du khách hay đang bán thân để nuôi cha mẹ già như đã kể trên. Cũng như các cháu, các em bé bất hạnh này mang cùng với cháu, với tất cả cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, một giòng máu Lạc Hồng, nhưng vận số rủi ro đã để các em ra đời dưới bầu trời xã hội chủ nghĩa của quê hương.
Nhiệm vụ của tất cả chúng ta, cao niên, trung niên và thanh nữ, thanh niên như các cháu là phải góp phần tích cực và đắc lực vào công cuộc tìm kiếm và thực hiện một giải pháp khả dĩ mang lại tự do, dân chủ cho đất nước, mở đường cho một vận hội mới tươi sáng cho toàn thể dân tộc.
Không có một cơ hội nào thuận lợi hơn, không có một vinh dự nào xứng đáng hơn là được cống hiến mọi nỗ lực và khả năng của chúng ta vào sự nghiệp lớn lao này, vào lúc này, khi mà trong nước cũng như ở khắp thế giới những huyền thoại về Hồ Chí Minh, về chiến tranh chống Mỹ, chống tư bản đế quốc, về thiên đàng hứa hẹn của Đảng v.v … đã sụp đổ và tan biến như một luồng gió độc thổi qua và những sự thật của lịch sử đã được phơi bày và kiểm chứng mà không còn ai chối cải được nữa , và đặc biệt hơn nữa, khi mà giờ đây diễn biến hoà bính đang chuyển động mạnh, sẽ dẫn đến mục đích cuối cùng: dân chủ hoá nước Việt Nam.
Ngoài việc lo cho đời sống cá nhân và gia đình, mổi một chúng ta vẫn có thể luôn luôn vươn mình lên để theo đuổi và thực hiện một lý tưởng cho cuộc đời , và còn lý tưởng nào cao đẹp hơn, thiết thân hơn, thiêng liêng hơn là phục vụ cho quê hương, cho giống nòi của mình. Trưởng thành xa tổ quốc, các cháu sẽ gặp được nơi môi trường phục vụ này những cơ hội gần gủi với nguồn gốc, xa tránh được nổi lo âu lạc mất căn tính (perte d’identité, loss of identity) điều mà bất cứ ai lớn lên ở xứ lạ quê người cũng có thể cảm nhận một ngày nào đó khi bơ vơ như lạc lỏng giữa những người có thể là bạn bè gần gủi nhưng màu da, chủng tộc khác nhau chưa kể phong tục tập quán nhiều lúc không giống nhau và chắc chắn không cùng một ngôn ngữ.
Tiếp đến nhưng chưa phải là lý do cuối cùng, từ phương vị một chuyên viên dù tài giỏi chăng nữa nhưng luôn luôn thúc thủ trong địa hạt chuyên môn của mình ở nước ngoài mà người tài không thiếu trong các quốc gia phát triển, các cháu có thể trở thành những thành phần quan trọng trong việc tái thiết và hiện đại hóa xứ sở, trở thành những nhân vật góp phần hoạch định các kế hoạch, các chính sách của Nhà Nước Việt Nam tương lai, và biết đâu, và tại sao không, trở thành những người lãnh đạo của một Nhà Nước mà các cháu và cha,mẹ, anh, chị, em của các cháu sẽ cùng đồng bào trong nước đứng lên xây dựng trong tiến trình dân chủ hóa quê hương, một tiến trình đang được đẩy mạnh và không một thế lực nào ngăn cản được.
Dân số Việt Nam đã bắt đầu vượt quá tám-mươi triệu. Nếu được dân chủ hoá, hiện đại hoá, canh tân hóa, lành mạnh hóa, nếu được lãnh đạo bởi những người yêu nước, thương dân, có khả năng, có đức độ, chắc chắn quê hương của chúng ta sẽ chiếm được một địa vị xứng đáng trong cộng đồng các nước văn minh tiền tiến trong thế giới.
Các cháu phải tham dự, phải dành chổ trong cuộc hành trình về nguồn và hướng tới bến vinh quang này, một cuộc hành trình đòi hỏi nhiều nỗ lực nhưng đầy phấn khởi và chứa chan hy vọng ở tương lai.
Hẵn nhiên, các cháu tiếp tục như thường lệ công việc nghề nghiệp của mình tại quốc gia các cháu đang cư ngụ cho đến ngày các cháu tự quyết định lấy tương lai theo tình hình mới của quê hương. Nhưng giờ đây, sự tham gia hoạt động chỉ đòi hỏi ở các cháu quyết tâm đóng góp tài trí và tâm huyết của các cháu vào công cuộc chung của những người muốn biến đổỉ hiện trạng của nước nhà bằng một đường lối tranh đấu quả cảm, kiên trì, bằng những phương thức dân chủ công khai trước thế giới đang nhìn thẳng vào Việt Nam và sẵn sàng hổ trợ khi cần thiết.
Các cháu không thể giam giữ tuổi trẻ của mình trong cái vỏ ốc nhỏ bé để hưởng thụ và tự mãn với vài tiện nghi vật chất rồi chôn vùi cả cuộc đời như một kẻ vô danh lạc lõng trong cái xã hội mà các cháu đã hội nhập.
Đã đến lúc các cháu phải lựa chọn giữa một cuộc đời tầm thường và phí phạm như vậy và một cuộc đời hào hứng, đầy ỳ nghĩa và hữu ích cho các cháu, cho quê hương của các cháu, một cuộc đời mà các cháu có quyền hãnh diện và có thể mang lại vinh quang xứng đáng cho chính các cháu.
* * * 
Làm chính trị, tham gia chính trị hay không, giữa lúc quê hương đang chờ đợi?
Thiết tưởng chúng ta đã trả lời minh bạch.
Câu trả lời của những người Việt ở hải ngoại mà tâm tư luôn luôn hướng về quê hương, đất tổ, với niềm tin bất diệt ở một tương lai sáng lạng của nước Việt Nam tự do, dân chủ, hòa bình, tiến bộ, nối tiếp lại với những truyền thống nhân bản, hòa ái, đạo đức, và quyết tâm mạnh tiến trên con đường canh tân toàn diện sau khi cái vòng ngoặc tai ương của lịch sử được khép lại vĩnh viễn.
Paris, đầu Xuân Ất Dậu, 2005
LS. Lê Trọng Quát
(1) Vài danh từ có nghĩa chuyên môn được dịch kèm theo Pháp ngữ và Anh ngữ thể theo lời yêu cầu của một số độc giả không quen nhiều với các danh từ Hán Việt.
  • Nhiều năm đã trôi qua nhưng vấn đề  chính yếu trình bày vẫn còn nguyên tính cách thời sự và trong hiện tình ở quê hương, sự dấn thân của mọi người yêu nước, yêu chuộng tự do, dân chủ, đặc biệt các bạn trẻ, cần phải được khẩn thiết đặt ra một cách toàn diện hơn bao giờ cả.
Paris, tháng 7, 2013

 

 



 

BÀN CỜ ĐÃ SẮP XONG
HỒ TẤN VINH
LƯƠNG TÂM NGƯỜI CỘNG SẢN
Từ trong nôi của Chủ Nghĩa, người Cộng sản đã đem ra hết nhiệt tình, trí tuệ, tài nguyên để thực hiện ước mơ. Nhưng họ đã thất bại và thừa nhận Chủ Nghĩa là không tưởng. Họ đã giải tán Lien Sô từ tháng 12 năm 1991. Bây giờ là năm 2013. Đã hơn hai chục năm rồi, dư thời gian để cho ai chậm hiểu cũng đã phải hiểu rồi rằng chủ nghĩa CS là sai lầm.
Trong nội bộ đảng CSVN, vấn đề duy nhứt được đặt ra đối với các đảng viên là Chủ Nghĩa sai rồi, ta phải làm sao?
Họ chỉ có một trong ba con đường để lựa chọn.
1- Mặc dầu biết rằng Chủ Nghĩa là sai rồi, nhưng vì địa vị, tài sản tạo dựng bấy lâu nay nhờ có đặc quyền, đặc lợi nên một số đảng viên phải bám lấy chế độ. Không còn phải vì ấm no của người dân, không phải vì độc lập của Tổ Quốc, mà chỉ vì quyền lợi cá nhân mà phải quyết liệt phản động đối với mọi đổi thay.
Cách đây 10 năm, Bùi Tín ước lượng số người này là 50 ngàn. Bây giờ có thể đã nhơn hai là 100 ngàn người. Đem ra so với dân số khoảng 90 triệu, thì họ chỉ là một tỷ lệ 1 trên 900.
2- Mặc dầu biết rằng Chủ Nghĩa là sai rồi, nhưng vì tuổi tác quá cao, họ không còn hơi sức để quây vòng, để nói chuyện lý tưởng nhân sinh, họ an phận với những kỹ niệm chống Tây, chống Mỹ để tự hãnh diện lúc cuối đời. Mấy người này từ từ chết hết rồi, bây giờ không còn mấy người ‘cách mạng lão thành’.
Nhung, đa số là đám đảng viên trẻ. Họ gia nhập Đảng không phải vì tốt bụng. Nhưng họ phải gia nhập Đảng để có cơ hội tiến thân. Số này có từ 2 đến 3 triệu người. Họ sẽ không còn mù quáng như ngày xưa các ‘anh hùng liệt sĩ’ ôm lựu đạn nhảy vào lô-cốt. Họ sẽ không chết vì ai cả, mà họ chỉ chịu chết cho lợi ích cá nhân của mình mà thôi. Nên gió thổi ngã nào thì họ sẽ theo hướng gió đó.
3- Những người CS hồi tâm, sau khi hiểu được rằng chủ nghĩa CS là sai lầm, không hèn nhác chối tội, ngược lại ý thức một cách đau đớn rằng mình cũng đã có nhúng tay vào máu, dự phần tạo dựng ra con quái vật, họ tự thấy có bổn phận và nhận trách nhiệm từ đây làm hết sức để đền bù. Mỗi người một kiểu, họ bắt đầu ‘hành trình đi ngược dòng đời của mình’ (Bùi Tín).
Phải thật là lương thiện, phải thật là can đãm mới dám dấn thân vào cuộc hành trình này.
Làm sao biết được họ có bao nhiêu người, nhưng ít ra ta cũng biết được những người CS hồi tâm nổi tiếng như các ông Hoàng Minh Chính, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Hộ (nhưng phải thú nhận rằng, chúng tôi đã chọn sai lý tưởng: cộng sản chủ nghĩa. Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng cộng sản ấy, nhân dân Việt Nam đã chịu sự hy sinh quá lớn lao, nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sỉ nhục.), Lê Hồng Hà (Bỏ điều 4 nói về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản vì Đảng chưa xứng đáng lãnh đạo việc xây dựng và phát triển đất nước), Trần Độ (Cái chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa của Việt Nam hiện nay nó tàn bạo hơn cả chế độ Tần Thủy Hoàng và sự dã man của chủ nghĩa phát xít Hít-le ), Vũ Thư Hiên, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh . . Bà Dương Thu Hương.
Người bền bĩ nhứt trong việc vạch ra những sai trái của những việc làm của Đảng CS để thuyết phục các đồng chí cũ sớm mở mắt ra là ông Bùi Tín. Ông là tác giã ba cuốn sách: Hoa Xuyên Tuyết (1991), Mặt Thật (1994), Mây Mù Thế Kỷ (1998) và rất nhiều bài viết ngắn và phỏng vấn.
Giữa những người CS phản động giả đò trung kiên ôm lấy ‘chủ nghĩa xã hội’ nhưng thật sự là để bảo vệ tài sản và địa vị của mình, muốn vậy thì phải tước đoạt quyền làm chủ của nhân dân và những người CS hồi tâm tranh đấu trả lại cho nhân dân quyền tự do định đoạt vận mạng của mình, ta đã thấy rõ ràng chánh nghĩa đang ở phía nào.
Trong cuộc đọ sức này, tôi chưa thấy vai trò giúp sức của những lãnh tụ quốc gia. Đáng tiếc hơn nữa, có người nhân danh ‘quốc gia’ để sỉ nhục những người CS hồi tâm.
Năm xưa, lúc Thượng Tá Tám Hà về hồi chánh, ông đã được đón tiếp lịch sự và được trọng đãi. Tôi không biết lúc Thượng Tá Tám Hà về hồi chánh với VNCH, có ai có can đãm đứng trước mặt Tám Hà mà hỏi ‘trước khi hồi chánh, anh đã giết bao nhiêu người lính Cộng Hòa?’
Vậy tại sao bây giờ ra được ngoại quốc rồi lại có quá nhiều ‘dũng khí’ đem chuyện cũ của Hoàng Minh Chính, của Nguyễn Hộ của Bùi Tín hay gần đây của Hồ Ngọc Nhuận, của Huỳnh Tấn Mẫm mà hạch sách, mà mạ lỵ? Cách cư xử không mã thượng này gián tiếp bôi lọ danh dự và hạ thấp phẫm giá của người quốc gia chân chính lại không giúp ích gì cho mục tiêu chống cộng, ngược lại nó chận con đường trở về với dân tộc, nó có tác dụng chống phụ Việt cộng.
Người cộng sản hồi tâm là ai?
Đó là những người cộng sản tự mình tìm cách thoát ra được cái mê hoặc của Chủ Nghĩa, tìm lại được cái bản ngã của mình, tìm lại được cái lương tâm của con người. Họ không phải chỉ lèo tèo mấy người nổi tiếng nêu ở trên mà là một số rất đông đảng viên, vì Trời Đất đã ban cho mọi người - không phân biệt học nhiều hay học ít - cái khả năng biết phân biệt cái đúng cái sai.
Người cộng sản hồi tâm là người lương thiện. Theo Hà Sĩ Phu, một khi họ trở thành lương thiện thì họ hết là cộng sản rồi.
Vì sau cùng, chính những người cộng sản hồi tâm mới có khả năng giúp đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng hôm nay.
Và đúng ngay lúc này, đây mới thật là một hành động cứu nước.
Day mới là một hành động yêu nước.
Phối hợp với những người CS hồi tâm là Lực Lượng Dân Tộc Việt Nam do các người Lãnh Đạo Tôn Giáo và những người đấu tranh Dân Chủ có quần chúng trong nước và hải ngoại góp sức, ta thấy mặt trận đã bày ra rồi – không cần đánh cũng đã biết ai thắng ai thua rồi - và bất luận sắp tới đây, Điều 4 của Hiến Pháp 1992 có bị bỏ liền hay không nhưng nhứt định sớm muộn gì nó phải bị bỏ và chế độ phải được thay đổi.
Đây không phải là một kiến nghị để xin xỏ mà đây là một đòi hỏi, bắt buộc phải thực hiện. Đòi hỏi này dựa trên
1. Không có chánh danh của chế độ
2. Các nhân quyền căn bản của công dân
3. Bọn phản động chỉ là một con số rất nhỏ


 

 

Con Đường Dẫn Tới Sụp Đổ

              các bạo quyền CS, trước Cơn Lốc

                  Dân Chủ Hoá Toàn Cầu

            

       Tập đoàn chóp bu Bắc bộ phủ vô cùng bối rối đối đầu trước cơn lốc “Cách Mạng Dân Chủ Hoá Toàn Cầu”đang diễn biến tại quốc nội. Bọn thái thú tham nhũng, sâu dân, mọt nước hút máu đồng bào của tập đoàn bạo quyền Nguyễn Tấn Dũng từ thượng tầng trung ương xuống đến phường, xã ngày càng lộng hành. Chúng ra mặt đấu đá nhau với tập đoàn Chính Trị Bộ Trung Ương Đảng của TBT Nguyễn Phú Trọng và CT nước Trương Tấn Sang bắt nguồn từ nguyên nhân nội tại triệt hạ phe cánh lẫn nhau:

 

   Nguyên Tắc Đảng Lãnh Đạo, Nhà Nước Quản Lý: Nguyên tắc nầy đảng trùm lên trên chính phủ theo truyền thống đảng trị tự xưa nay. Nhưng kể từ khi Hoa Kỳ xã cấm vận, thu nhận CS vào WTO qua sách lược “Cũ cà rốt và chiếc gậy”. Tập đoàn chóp bu bắc bộ phủ dư biết điều nầy Mỹ muốn gì và triệt để khai thác? Nguyên tắc công pháp quốc tế, chính phủ Hoa Kỳ và các chính phủ khác chỉ ký kết khế ước với chính phủ CS là tên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu nội các mà thôi. Người ta không cần biết tới tên TBT đảng Nguyễn Phú Trọng, chỉ là một tổ chức đảng phái sinh hoạt chính trị như bao nhiêu các chính đảng khác, không có tư cách pháp quyền đại diện ký kế khế ước. Do đó, tập đoàn Chính Trị Bộ Trung Ương Đảng CSHN tăng cường cho tên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiều quyền hành để ra ngoài ký kết với Mỹ và các nước những khế ước mậu dịch, nhất là từ khi Mỹ xả cấm vận, cho CSHN được hưởng quy chế “Tối Huệ Quốc, cũng như chương trình Thương Mãi Quốc Tế (Word Trade Organization (WTO) ký kết song phương, đa phương những khế ước nhằm kiếm ngoại tệ (dollars) rập khuôn theo quan thầy Tàu đã vứt cái gọi là kinh tế HXCN lỗi thời lạc hậu vào sọt rác từ thời Đặng Tiểu Bình, thay vào đó bằng nền kinh tế thị trường đã cứu nguy sự sụp đổ. Thế nhưng CSHN cũng rập khuôn, học theo quan thầy, nhưng lại trơ trẽn chế ra những cụm ngụy từ vô nghĩa “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” nghe thật chói tai.

      Vai Trò Đảng Lãnh Đạo Như Một Bóng Mờ:

      Cũng chính sự kiện nầy; vai trò đảng lãnh đạo lu mờ dần vào bóng tối, chỉ còn phảng phất trên lý thuyết. Từ ấy, Nguyễn Tấn Dũng ngày càng củng cố phe cánh tham nhũng từ trên xuống dưới một hệ thống rất chặt chẽ để bảo vệ quyền lực và quyền lợi lẫn nhau qua mặt TBT Nguyễn Phú Trọng và CT nước Trương Tấn Sang và còn chơi xỏ lá triệt bồ nhí Trương Tấn Sang là nữ đại biểu quốc hội Đặng Hoàng Yến và thằng em Đặng Thành Tâm cũng ĐBQH cấu kết đường dây tham nhũng hạng nặng . Sang cay cú bèn cấu kết với Trọng trả đủa triệt tên Bầu Kiên đàn em thân tín nhất của Dũng và đứa con gái làm mưa làm gió trong hệ thống tham nhũng tại Sài Gòn Thủ Đô Kinh Tế của bọn ma cô “Tư Bản Đỏ”. Không dừng lại ở đó, TBT Trọng và CT nước Trương Tấn Sang triệu tập Chính Trị Bộ & Trung Ương Đảng một cuộc họp bất thường với mưu đồ hạ bệ Dũng khỏi chức vụ thủ tướng. Nào ngờ phe cánh thái thú Nguyễn Tấn Dũng đâm chồi, bén rể của cái hệ thống chính quyền thắng thế, mặt khác Dũng ma dáo nhanh chân chạy qua Tàu nhờ quan thầy CT Tập Cận Bình và thủ tướng Ôn Gia Bảo đỡ đầu, bảo hộ nên Dũng vẫn ở thế thượng phong, khiến Trọng và Sang lếp vế. Trong cuộc họp bất thường nầy khiến Trọng bối rối đến nỗi không dám nêu đích danh Dũng ra, mà chỉ ú ớ ám chỉ những sai phạm cần phải sửa sai của đồng chí “X”? đồng chí "X" là đồng chí nào?

      Chưa triệt được Dũng, phe TBT Trọng và CT Sang vận dụng hành lang nguyên tắc đảng lãnh đạo, tước dần  những quyền đã trao cho Dũng để gỡ gạt và dằn mặt tập đoàn đàn em của thái thú Dũng. Cơn sóng ngầm tranh chấp quyền lực phe nhóm tại sào huyệt Bắc Bộ Phủ của bọn chóp bu, bè lũ thái thú bán nước, phản quốc hại dân đến ngày cáo chung. Bọn chúng đang ra sức gây bè kết đảng để triệt hạ nhau theo quy luật “gian hùng” mạnh được yếu thua chờ ngày bộc phát những pha ngoạn mục.

 

      Con Đường Tử Huyệt, Đào Mồ Chôn Chúng:

      Lần đầu tiên và có thể là lần chót; chúng phơi bày bộ mặt tội ác xấu xa trước dư luận quần chúng trong, ngoài nước mỗi ngày tăng thêm sự phẫn nộ. Để xoa dịu căm phẫn, chúng đưa dân tộc vào “mê đồ trận” bày ra qủy kế cũ rích; kêu gọi toàn dân góp ý sửa đổi Hiến Pháp. Thì cũng chính mưu ma, chước qủy nầy đang dóng lên “HỒI CHU BÁO TỬ” ĐCS bọn vô thần, bá đạo, mà chúng “LỘNG DÃ THÀNH CHÂN”.

 

      Tất cả mọi tầng lớp trí yêu nước, Hội Đồng Giám Mục Việt và các Hội Đồng Tôn Giáo bạn, các phong trào dân chủ trong và ngoài nước như nước vỡ bờ, như cơn lốc xoáy, như sóng dâng cuồn cuộn hô hào khai tử ĐCS (Điều 4 HP). Sự kiện nầy sẽ biến thành cuộc “CÁCH MẠNG HIẾN PHÁP” cuộc “CÁCH MẠNG DÂN CHỦ HÓA TOÀN CẦU” chôn vùi, quét sạch bọn tà quyền CS còn sót lại trên hành tinh nầy tại Á CHÂU (CS Hà Nội, CS Bắc Kinh và CS Bình Nhưỡng)  thắp sáng chân lý:

 

      “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo”

                “Ý DÂN LÀ Ý TRỜI”

“Thuận thiên dã tồn, Nghịch Thiên dã vong” @

 

                    Cao Gia/Trúc Giang.

 

Lá bài mới của Mỹ tại Việt Nam ?

HÀ NHÂN VĂN
Posted on 10/05/2013
***




Sau khi bộ Ngoại giao Hoa Kỳ long trọng trao giải thưởng “Phụ nữ dũng cảm” trên thế giới cho Tạ Phong Tần, Uncle Sam lật một lá bài nho nhỏ trên bàn, phe Thái thú Nguyễn Phú Trọng hụt hẫng, vô phương phản bác: Phó Đô đốc (3 sao), bộ Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ trong một hội nghị, tuyên bố tuần duyên Hoa Kỳ sẵn sàng giúp VN, bảo vệ ngư dân VN đánh cá xa bờ trong hải phận trên biển Đông. Tin này loan tải qua đài VOA và RFA, như điện giật, như sấm chớp loan nhanh khắp miền duyên hải VN với hơn 5 triệu ngư dân đang khốn khổ ở ngõ cụt xa bờ do các tàu hải giám TC bắn phá ngăn cản, đang bừng bừng sống dậy coi “ông Mỹ” như Thần biển cứu độ. Những lời đồn đại thêm hoa lá cành như trận gió Nồm thơm mùi sinh khí mới trên sinh lộ mới giữa biển cả: “Tàu Mỹ sắp tới bảo vệ ta, bà con ơi!” Một vị linh mục cao niên ở Qui Nhơn cho biết như thế.
 
Thì đúng rồi, VOA vừa loan tin tàu chiến Mỹ USS Freedom đã neo ở cảng Tân Gia Ba, sẵn sàng rồi đấy! Tàu chiến Mỹ lại vừa cập bến Tiên Sa. Cứ thế, một đồn 10, mười đồn 100! Nói với ngư dân và nông dân về tự do, dân chủ nhân quyền đâu hấp dẫn bằng “bát cơm đầy với khúc cá to!” Dân đảo Lý Sơn (Cù lao Ré) mở hội lễ tưng bừng tuần trước để biểu dương khí thế “bám biển”. Ngoại trưởng Phạm Bình Minh cùng phái đoàn bay qua đảo tham dự, dân đảo hoan hô vang dội như bão tố, nhất là chàng Ngoại trưởng trẻ tuổi này, lớn tiếng đầy hào hùng nói mấy tiếng “Kẻ Thù của chúng ta”, dân Lý Sơn cuồng nhiệt vỗ tay! Tuy không nói đích danh kẻ thù ấy là ai nhưng ai ai cũng hân hoan hiểu rằng đó là Trung Cộng. Xưa (1990) cha Phạm Bình Minh (PBM) là NT Nguyễn Cơ Thạch gọi đích danh Bắc Kinh là giặc Bắc. Nay con PBM sẽ thế nào? Một cái gai trước mắt Bắc Kinh. Cho đến nay, chàng trai trẻ “Mỹ du” này vẫn bị Bắc Kinh chặn không cho vào bộ CT-ĐCSVN.
 
Nên lưu ý, bộ Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ (The Coast Guard) trực thuộc bộ Giao thông (DOT), kinh nghiệm báo chí cho biết, tàu phá mìn “The Cutter” của Tuần duyên đen nơi đâu là báo trước biến cố lớn sẽ xảy ra như chiến tranh vùng Vịnh, Iraq, A Phú Hãn hoặc mang một tín hiệu báo cho đối thủ biết “Hoa Kỳ đang có mặt, đừng có xớ rớ” (American is here!). Năm 2012, tàu Tuần duyên “The Cutter” đến Phi Luật Tân, neo ở bờ biển Palawan. Nay, chỉ cần một Đô đốc tuần duyên Mỹ bắn tiếng, sẽ giúp ngư dân VN đánh bắt cá xa bờ được an toàn. Đại sứ David Shear ở Hà Nội đã lượm được trên 5 triệu phiếu của ngư dân Việt giơ cao tay “American Number One”, không kể hàng triệu người liên hệ đến ngư nghiệp. Đây là vấn đề nhân đạo, vị Đô đốc tuần duyên thuộc bộ giao thông bắn tiếng mà không phạm luật. Phe Thái thú đầy tớ Bắc Kinh ở Hà Nội có dám từ chối đề nghị này không? Nếu từ chối thì ngư dân miền Trung sẽ đào mả ông bà cha mẹ chúng đổ xuống sông biển. Đây là một trong mấy chiến thắng của Mỹ “bất chiến tự nhiên thành” ở VN sau 38 năm VNCH sụp đổ.
 
KHI HOA KỲ CÔNG NHẬN HOÀNG SA CỦA VN
 
John Kerry, Ngoại trưởng Mỹ đã khác một Kerry phản chiến trước đây, khác Kerry Nghị sĩ liên tục bảo trợ cho VNCS gần 20 năm. Ngồi vào ghế ngoại trưởng, Kerry phải theo định hướng của Uncle Sam với 2 mục tiêu quan trọng nhất trong chiến lược toàn cầu mà thế kỷ 21 được mô tả là thế kỷ Á châu và bây giờ thêm lục địa Phi châu: 1. Trở lại Á châu TBD như quí độc giả đã rõ. 2. Cùng với đồng minh Anh, Pháp và Đức, tranh thủ Phi châu, dầu hỏa, tài nguyên nông dân và quặng mỏ.
 
Hơn 20 năm qua, lợi dụng Mỹ và Tây Âu bỏ ngỏ Phi châu, Mỹ bị lôi kéo rồi chìm đắm vào 3 cuộc chiến vùng Vịnh, Iraq và A Phú Hãn, không kể cuộc chiến chống khủng bố, tốn kém khủng khiếp, Bắc Kinh được dịp thơ thới tung cánh rồng Đỏ bay về 10 phương 9 hướng với đại chiến lược Go Out, Phi châu là chính yếu. Năm 2001, TQ chi 70% vốn liếng cho dầu khí. Nay thì TQ khựng lại (2013), do lối làm ăn quốc tế không thành thật, lắt léo, quá tham lam, thiếu kinh nghiệm (xem: “China’s Go-Out strategy”. Oil magazine, Dec, 2012, pp. 40-42).
 
TQ đã mất Lybia, đang gặp khó khăn ở Nam Sudan và kể cả Angola và Algeria … Đó là lý do một mất một còn, Bắc Kinh phải lao xuống Biển Đông và nhoài qua liên minh với Putin Nga Sô. Nếu không có Mỹ OK thì Mao – Chu không dám liều lĩnh đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH năm 1974. Không đoàn khu trục, vùng I CT (ở Đà Nẵng) đã bị chặn không cho cất cánh tấn công hạm đội TC tiến chiếm Hoàng Sa, dù vị Chuẩn tướng Tư lệnh nôn nóng trong cánh chim sắc cho quân xâm lăng TC biết tay không quân VNCH (đó là lý do vị Chuẩn tướng Tư lệnh quá uất hận, định cư ở Montreal, Canada mà không vào Mỹ, ông đã mang mối hận lòng cho đến khi qua đời).
 
Với máu Đại Hán xâm lược, quá hung hăng nên Bắc Kinh phạm vào sai lầm nghiêm trọng mà Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đã tránh được để tiến hành chiến lược vết dầu loang: Không thách đố Mỹ, hòa hoãn với Nhật để phát triển “Đại dương Nam tiến” sau khi được Nixon – Kissinger bật đèn xanh cho chiếm Hoàng Sa của VN để làm một chốt chiến lược chống Liên Xô ở Biển Đông. Hồ Cẩm Đào quá yếu, chỉ là một đại thư lại để cho các ông Tướng chủ động tung hoành, ngang ngược tiến nhanh xuống Biển Đông, lợi dụng Mỹ bị cầm chân ở A Phú Hãn và Trung Đông, coi Biển Đông là ao nhà của TQ, chiếm diện tích 80% Biển Đông! VN đặt tên là Lưỡi Bò. Uncle Sam và cử tri Mỹ chọn huyền ngọc Barack Obama, thật là một viễn kiến tuyệt vời, trao cho Obama mài quê cha là Kenya, với sứ mệnh trở lại Phi châu, một Phi châu đầy triển vọng đang lớn dậy, tạp chí Oil tôi đã dẫn, dành hẳn một số chủ đề Africa Today – A continent at a crossroads (Một lục địa ở ngã đường giao lưu), (no 19, p. 3-4). Một Phi châu mà TQ tràn ngập cách đây trên 20 năm, nay thì đang lúng túng to, Âu Mỹ “nhường cho phần nào hay phần ấy”. Một Phi châu vốn chống Mỹ do thù ghét Do Thái thì nay một Phi châu tự hào về Barack Obama, một thần tượng của giới trẻ và trung niên Phi châu. Người Tàu Hoa Lục càng ngày càng trở nên xa lạ (distant from) ở giữa lòng xã hội Phi châu (với thịt heo và lạp xưởng là điều đáng kinh tởm đối với Hồi giáo Phi châu).
 
Cũng như thế, khi ngồi vào ghế Ngoại trưởng, bà Hillary Clinton chọn chàng tuổi trẻ Mỹ gốc Việt làm Tổng lãnh sự Mỹ tại Sàigòn! Và nay ông Ngoại John Kerry mới sử dụng lá bài tuyệt vời này, cử Tổng lãnh sự Lê Thành Ân, cầm đầu phái đoàn Hoa Kỳ ra Đà Nẵng thăm huyện đảo Hoàng Sa ngày 23-4-2013 vừa qua gồm các Tham vụ chính trị, văn hóa, thương mại và viên chức của tòa Đại sứ. Tại sao không cử Đại sứ hay Phó Đại sứ và Đệ Nhất tham vụ làm trưởng phái đoàn? Đây là một “đòn” chính trị tuyệt vời. Như tôi đã biết, ngoại giao nước nào cũng có riêng một ngành lãnh sự trách nhiệm về kiều dân, di trú, chiếu khán, giữ quyen lãnh sự tài phán và luật lệ lãnh sự, còn Đại sứ thuộc về ngoại giao và chính trị. Bộ Ngoại giao Mỹ muốn tách ngoại giao và chính trị cũng như Đại sứ Mỹ ra khỏi vấn đề Hoàng Sa vốn rất nhạy cảm trong quan hệ ngoại giao Hoa-Mỹ. Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng kiêm Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa chào đón phái đoàn. Theo tin RFA, “Đoàn công tác Tổng lãnh sự bày tỏ lập trường ủng hộ giải pháp hòa bình đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông, khẳng định sự cần thiết hợp tác để bảo đảm chủ quyền, bảo đảm hòa bình, an ninh an toàn và tự do hàng hải (…) trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế về Luật biển 1982″. Đây chỉ là ngôn ngữ ngoại giao vẫn thường được Hoa Kỳ nhắc đi nhắc lại. Nói tranh chấp là không đúng, TC đã đơn phương xâm lược.
 
Từ trong lịch sử, luật biển và công pháp quốc tế, Hoàng Sa – Trường Sa mặc nhiên và đương nhiên thuộc chủ quyền của nước VN. Cho đến nay chưa một nước nào trong cộng đồng thế giới, công nhận đường Lưỡi Bò Biển Đông là của Trung Cộng. Dù Hun Sen, Cao Miên là tên tay sai của Bắc Kinh vẫn im lặng. Đó là lý do tại sao Trung Cộng chỉ to mồm lấp liếm, không dám đối mặt với luật pháp quốc tế. Hầu hết giới sử gia và luật gia quốc tế, xác minh rằng, nếu đưa Hoàng Sa-Trường Sa ra trước tòa án quốc tế, TC sẽ thua to. Với Bắc Kinh, họ bất chấp! Lịch sử TQ họ còn viết lại cho phù hợp với bá quyền bánh trướng của Đại Hán Mao huống chi. Đấy, Phi đưa TQ ra trước tòa án quốc tế và LHQ đã chấp đơn, thụ lý, Bắc Kinh còn lờ hẳn đi, huống chi VN đang trong tay Bắc Kinh. Hẳn bộ NG Hoa Kỳ biết rõ như thế. Và, Hoa Kỳ lên tiếng ủng hộ Phi. Sự kiện Tổng lãnh sự Mỹ và phái đoàn Mỹ đến thăm UBND huyện đảo Hoàng Sa, đây là vấn đề ảo nhưng ảo mà là thật. Báo chí Đảng và nhà nước TC phản ứng điên cuồng, lên án Mỹ là kẻ “phá hoại hòa bình” ở Á Đông. Chính trị quốc tế bao giờ chẳng là ảo nhưng không hư ảo trong vấn đề Biển Đông và VN. Những đội tàu hải giám TC và cả hạm đội Nam Hải của TC rong ruổi đi lại đầy thách đố ở Biển Đông, Bắc Kinh đã cống hiến cho HP Obama một cơ may hiếm có, vượt qua mặt các giải Nobel Hòa Bình của Obama lại thuyết phục được lưỡng đảng và công luận Mỹ đem sức mạnh Liên quân Mỹ trở lại Á châu, TBD trong đó có ĐNA như thời 1954 với Tổ chức Liên phòng ĐNA SEATO để “be bờ đắp đập” ngăn làn sóng đỏ Bắc phương. Nay lại nhờ có TC công khai thách đố, Uncle Sam được cả Nhật, Nam Hàn và ĐNA đón chào công kênh làm Anh Hai bảo trợ, vượt cả vai trò “sponsor” mà là “protégé” của ĐNA, không cần tổ chức tốn hàng tỷ hàng tỷ dollars như SEATO năm 1954-55… Năm 2012 một “siêu” SEATO đã thành hình, một SEATO ảo! Không cần Cam Ranh, không cần Chu Lai, không cần cả “đất địa giang sơn” MAC-V ở Tân Sơn Nhất như xưa. Tàu chiến võ trang hiện đại nhất USS Freedom đã neo ở cảng Tân Gia Ba, hoạt động trong vòng 6 tháng, luân phiên, không cần doanh trại, sĩ quan và thủy thủ đoàn vẫn ở dưới tàu. Trước đây, từ thời SEATO ra đời, Hoa Kỳ phải thuê căn cứ Subic Bay và phi trường quân sự Clark Field (gần Manila) nay khỏi phải chi một xu, hạm đội Mỹ, kể cả hàng không mẫu hạm tự do neo ở Subic Bay mà lại không cần thường trú. Quốc hội Mỹ mừng vô tả, không cần mở hầu bao!
 
Tuy nhiên Hoa Kỳ vẫn kẹt ở VN! Miên đã lọt vào tay TC nhưng không đáng kể, vẫn còn Thái Lan khống chế, kể cả Lào. Với tình báo Mỹ và Đài Loan, hơn ai hết, Ngũ giác đài và bộ NG Mỹ đã biết tỏ tường, kể cả ngỏ ngách nội bộ ĐCSVN hiện nay. Hoa Kỳ chưa thể tiến xa hơn. Nhân quyền tuy là vũ khí nhưng vậy vậy thôi! Đầu tư của Mỹ ở VN lớn lao như thế nhưng vẫn là ảo, qua các con số, đã giải ngân được bao nhiêu đâu! Trong khi Bắc Kinh bằng mọi giá phải nắm chặt VNCS. Hơn ai hết, tình báo Đài Loan biết rõ thực lực khủng khiếp của TC ở VN hiện nay. Thái thú bản xứ Nguyễn Phú Trọng chỉ là mặt nổi, còn nhiều đà cản khác rất mạnh của TC trong ĐCSVN từ cơ sở tỉnh và huyện, 90% các gói thầu vừa và nhỏ ở VN trong tay tư bản TC thì đủ hiểu sức mạnh của Bắc Kinh như thế nào! Âu – Mỹ thấm thía vào đâu! Mặc dầu sức mạnh mềm (soft power) của Mỹ càng ngày càng lan rộng và bám sâu ở VN từ xã hội đời thường đến trí thức tầng cao, nhưng vẫn chưa tạo thành lực tập trung để đẩy CSVN sụp đổ!
 
KHÔNG THOÁT KHỎI SỤP ĐỔ!
 
Qua 2 biến cố, tôi gọi là biến cố vì tác động rất mạnh trong lòng dân VN: 1. Mỹ bắn tiếng lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ sẽ giúp và che chở cho ngư dân VN đánh bắt cá xa bờ! Ngư dân Việt ham quá đi chứ lại! Điều bắn tiếng này không phải là hứa suông, rất dễ thực hiện. Quốc hội và công luận Mỹ chấp nhận ngay vì không đối đầu với TC, đã sẵn cảng TGB và Subic Bay, năm ba tàu tuần duyên từ Hawaii điều qua “du dương” ở vùng biển VN lợi nhiều mặt, nhân đạo mà! Các tàu hải giám TC, kể cả hạm đội Nam Hải có dám đương đầu với tàu tuần duyên của Mỹ không? Xin thưa không, ngoại trừ lên cơn điên. Đại tướng Lương Quang Liệt, khi là Bộ trưởng Bộ quốc phòng TC qua thăm Ngũ giác đài và các căn cứ quân sự Mỹ (2011), tướng Liệt đã công khai thừa nhận trong một cuộc họp báo ở Hoa Thịnh Đốn rằng “Khoa học kỹ thuật quân sự của Mỹ bỏ xa TQ”, và “TQ phải cần 20 năm nữa mới đuổi kịp Hoa Kỳ”. Không điên dại gì hải quân TC đối đầu thách đố với hạm đội Mỹ. Giả dụ, tàu chiến TC nổ súng trước, cầm chắc sẽ bị hạm đội Mỹ tiêu diệt ngay, kể cả tàu ngầm của TC. Bắc Kinh không dại gì tự phá vỡ huyền thoại hải dương Nam tiến của hải quân TC.


 
Hoa Kỳ tuần qua lật thêm một lá bài trên bàn họp của lãnh đạo VNCS: VN có thể mua máy bay tuần thám biển của Mỹ loại P-3C Orion do hãng Lockheed Martin chế tạo đang đậu đầy ở sân bay Honolulu, Hawaii. VN dự trù sẽ mua 6 cái. Ngũ giác đài bắn tiếng VN có thể mua và Hoa Kỳ bán mà không vi phạm luật hiện hành cấm “bán vũ khí cho một nước CS hay thù địch loại sát thương”. Máy bay Orion không võ trang bất cứ loại vũ khí sát thương nào. Máy bay thám thính Orion có thể khám phá tàu ngầm địch dưới lòng sâu đại dương. Trước đây, Liên Xô chế tạo loại thám thính tương đương IL-38, TU 142 nhưng sau khi Liên Xô sụp đổ, Nga không còn chế tạo loại này nữa, vả lại đã quá lạc hậu so với Orion. Do vậy, chỉ còn Orion của Lockheed. Với Orion, VN có thể kiểm soát trên mặt biển và dưới lòng sâu toàn hải phận VN. Không ham sao được! Nếu Bạch ốc OK, Orion có thể trao cho VN ngay. Ngon lành quá! Phe đầy tớ Bắc Kinh ở Hà Nội chủ trương “chiến lược” tách lãnh thổ đất liền ra khỏi biển đảo VN. Vẫn tiếp tục “16 chữ vàng, 4 tốt với TQ, còn “vấn đề Biển Đông” trao cho bộ ngoại giao xử lý, đã có sẵn bổn cũ sao lại, khi cần phát ngôn viên cứ đem ra đọc thuộc lòng bài bản tố cáo TQ “vi phạm chủ quyền biển VN”. Thế thôi.
 
Đột nhiên, huyện Lý Sơn, trung tâm nghề cá từ Hoàng Sa đến Trường Sa, mở hội lễ cờ quạt kèn trống rước kiệu tưng bừng, bộ trưởng ngoại giao PBM bay ra đảo dự lễ hội khai mạc. Tuần sau chủ tịch nước Trương Tấn Sang lại bay qua đảo hứa hẹn tùm lum. Ít nhất đây là một dấu chỉ mới đối đầu với phe đầy tớ Bắc Kinh. Miến Điện hay Mayanmar đang là mẫu mực lý tưởng đang là mẫu mực lý tưởng đối với doanh gia và kinh tế gia VN. Tạp chí Foreign Affairs, số mới nhất, lần thứ 2, hoan hỷ giới thiệu nước Myanmar mới, đã dứt bỏ TC, chế độ quân phiệt đã cáo chung. Myanmar tưng bừng sống lại, phục hồi toàn diện nhờ phép lạ dân chủ, tự do (báo đã dẫn, The remarkable transformation continue, May-June 2013- với 11 trang báo hình ảnh rực rỡ). Miến Điện đổi mới và dân chủ hóa đang phổ biến rộng rãi ở VN. Điều mà Nguyễn Tấn Dũng hồ hởi về Mayanmar mới: đó là, đảng cầm quyền vẫn tồn tại, quốc hội Miến Điện vẫn trong tay đảng cầm quyền. CSVN không thoát khỏi sự sụp đổ, không còn bao xa! Nó phải sụp đổ, một qui luật tất yếu. Miến Điện là mô hình.


HÀ NHÂN VĂN

 

                                      Subject: The next terrorist
attack    will be different !!

Juval Aviv was the Israeli Agent upon whom the    movie ' Munich ' was
based. He was Golda Meir's bodyguard, and she appointed    him to
track down and bring to justice the Palestinian terrorists who took
the Israeli athletes hostage and killed them during the Munich Olympic
  Games.

In a lecture in New York City he shared information that    EVERY
American needs to know -- but that our government has not yet shared
with us.

He predicted the London subway bombing on the Bill O'Reilly    show on
Fox News, stating publicly that it would happen within a week. At
the time, O'Reilly laughed, and mocked him saying that in a week he
wanted    him back on the show. Unfortunately, within a week the
terrorist attack had    occurred.

Juval Aviv gave intelligence (via what he had gathered in    Israel
and the Middle East ) to the Bush Administration about 9/11, a month
  before it occurred. His report specifically said they would use
planes
as    bombs and target high profile buildings and monuments. Congress
has since    hired him as a security consultant.

Now for his future predictions.    He predicts the next terrorist
attack on the U.S. Will occur within the next    few months.

Forget hijacking airplanes, because he says terrorists    will NEVER
try and hijack a plane again as they know the people on board    will
never go down quietly again. Aviv believes our airport security is a
  joke -- that we have been reactionary rather than proactive in
developing    strategies that are truly effective.

For example:

1) Our    airport technology is outdated. We look for metal, and the
new explosives    are made of plastic.

2) He talked about how some idiot tried to    light his shoe on fire.
Because of that, now everyone has to take off their    shoes. A group
of idiots tried to bring aboard liquid explosives. Now we    can't
bring liquids on board. He says he's waiting for some suicidal maniac
  to pour liquid explosive on his underwear; at which point, security
will    have us all traveling naked!
Every strategy we have is reactionary .

3) We only focus on security when people are heading to the gates.

Aviv says that if a terrorist attack targets airports in the future,
  they will target busy times on the front end of the airport
when/where
    people are checking in. It would be easy for someone to take two
suitcases    of explosives, walk up to a busy check-in line, ask a
person next to them to    watch their bags for a minute while they run
to the restroom or get a drink,    and then detonate the bags BEFORE
security even gets involved. In Israel ,    security checks bags
BEFORE people can even ENTER the airport.

Aviv    says the next terrorist attack here in America is imminent and
will involve    suicide bombers and non-suicide bombers in places
where large groups of    people congregate. (i.e., Disneyland, Las
Vegas casinos, big cities ( New    York , San Francisco , Chicago ,
etc.) and that it will also include    shopping malls, subways in rush
hour, train stations, etc., as well as rural    America this time..
The hinterlands ( Wyoming , Montana , etc.).

The    attack will be characterized by simultaneous detonations around
the country    (terrorists like big impact), involving at least 5-8
cities, including rural    areas.

Aviv says terrorists won't need to use suicide bombers in    many of
the larger cities, because at places like the MGM Grand in Las Vegas
  , they can simply valet park a car loaded with explosives and walk
away.

Aviv says all of the above is well known in intelligence circles,
but that our U.S. Government does not want to 'alarm American citizens'
with    the facts. The world is quickly going to become 'a different
place', and    issues like 'global warming' and political correctness
will become totally    irrelevant.

On an encouraging note, he says that Americans don't    have to be
concerned about being nuked. Aviv says the terrorists who want to
destroy America will not use sophisticated weapons. They like to use
suicide    as a front-line approach. It's cheap, it's easy, it's
effective; and they    have an infinite abundance of young militants
more than willing to 'meet    their destiny'.

He also says the next level of terrorists, over    which America
should be most concerned, will not be coming from abroad. But    will
be, instead, 'homegrown', having attended and been educated in our own
    schools and universities right here in the U.S. He says to look for

    'students' who frequently travel back and forth to the Middle East
.
These    young terrorists will be most dangerous because they will
know our language    and will fully understand the habits of
Americans; but that we Americans    won't know/understand a thing
about them.

Aviv says that, as a    people, Americans are unaware and uneducated
about the terrorist threats we    will inevitably face. America still
has only a handful of Arabic and Farsi    speaking people in our
intelligence networks, and Aviv says it is critical    that we change
that fact SOON.

So, what can America do to protect    itself? >From an intelligence
perspective, Aviv says the U.S. needs to    stop relying on satellites
and technology for intelligence. We need to,    instead, follow Israel
's, Ireland 's and England 's hands-on examples of    human
intelligence, both from an infiltration perspective as well as to pay
  attention to, and trust 'aware' citizens to help. We need to engage
and    educate ourselves as citizens; however, our U.S. government
continues to    treat us, its citizens, 'like babies'. Our government
thinks we 'can't    handle the truth' and are concerned that we'll
panic if we understand the    realities of terrorism. Aviv says this
is a deadly mistake.

Aviv    recently created/executed a security test for our Congress, by
placing an    empty briefcase in five well-traveled spots in five
major cities. The    results? Not one person called 911 or sought a
policeman to check it out. In    fact, in Chicago , someone tried to
steal the briefcase!

In    comparison, Aviv says that citizens of Israel are so well
'trained' that an    unattended bag or package would be reported in
seconds by citizen(s) who    know to publicly shout, 'Unattended Bag!'
The area would be quickly &    calmly cleared by the citizens
themselves.

Unfortunately, America    hasn't been yet 'hurt enough' by terrorism
for their government to fully    understand the need to educate its
citizens or for the government to    understand that it's their
citizens who are, inevitably, the best first-line    of defense
against terrorism.

Aviv also was concerned about the high    number of children here in
America who were in preschool and kindergarten    after 9/11, who were
'lost' without parents being able to pick them up, and    about our
schools that had no plan in place to best care for the students
until parents could get there. (In New York City , this was days, in
some    cases!)

He stresses the importance of having a plan, that's agreed    upon
within your family, of how to respond in the event of a terrorist
emergency. He urges parents to contact their children's schools and
demand    that the schools too, develop plans of actions, just as they
do in Israel .

Does your family know what to do if you can't contact one another by
  phone? Where would you gather in an emergency? He says we should all
have a    plan that is easy enough for even our youngest children to
remember and    follow.

Aviv says that the U.S. government has in force a plan, that    in the
event of another terrorist attack,EVERYONE's ability to use cell
phones, blackberries, etc., will immediately be cut-off, as this is the
    preferred communication source used by terrorists and is often the
way that    their bombs are detonated.

How will you communicate with your loved    ones in the event you
cannot speak to each other? You need to have a plan.

If you understand, and believe what you have just read, then you
must feel compelled to send this to every concerned parent, guardian,
  grandparent, uncles, aunts, whomever. Don't stop there. In addition
to    sharing this via e-mail, contact and discuss this information
with whomever    it makes sense to. Make contingency plans with those
you care about. Better    that you have plans in place, and never have
to use them, then to have no    plans in place, and find you needed
them.

If you choose not to share    this, or not to have a plan in place,
and nothing ever occurs -- good for    you! However, in the event
something does happen, and even more so, if it    directly affects
your loved ones, then this e-mail will haunt you forever.

Telling yourself after the fact, "I should have sent this to so and
so, but deleted it as so much trash from old XXXXXXX, plus, I just
didn't    believe it", will not change anything. You were alerted, had
the chance to    do something, and instead of erring on the side of
caution, you chose to    disregard, if nothing else, a sensible,
valuable    warning.










 

BAO GIỜ THÌ LÃNH ĐẠO CSVN SẼ TẠ LỖI VỚI ĐỒNG BÀO, TỔ QUỐC VÀ LỊCH SỬ?

 

NGUYỄN THIẾU NHẪN

 

Trong bài “Hiện tượng sám hối”, Mặc Lâm, biên tập viên đài RFA đã phỏng vấn nhà văn, nhà phê bình Trần Mạnh Hảo về hiện tượng những lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam lên tiếng phủ nhận những gì mà họ theo đuổi trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

 

Theo nhà văn Trần Mạnh Hảo thì: “Ông Phó Thủ Tướng Trần Phương là một người cũng đã tận tụy đi theo cách mạng. Làm đến Phó Thủ Tướng nhưng khi các ông ngồi lại để góp  ý cho đảng thì ông ấy nói rằng cuộc đời trong mỗi cá nhân để vượt qua những sự kiện quan trọng trong đời mà cứ phải nói dối người thân, nói dối gia đình, nói dối mọi người đến mấy lần thì đến khi về già đã thấy ngượng, thấy xấu hổ lắm. Nhưng Đảng Cộng Sản của chúng ta từ khi sinh ra đến giờ toàn nói dối mà không biết tại sao đảng không biết ngượng, không biết xấu hổ,không biết sám hối”.

 

Thực ra, không phải tới bây giờ mới có những nhận xét “động trời” này! Những chuyện  lãnh đạo Đảng CSVN nói dối không biết ngượng miệng đã xảy ra từ thời “con trăn miền Bắc” chưa nuốt trọn “con nai miền Nam” rồi bị bội thực “xã hội chủ nghĩa theo định hướng kinh tế thị trường” cho tới nay.

  

Trước ông Phó Thủ Tướng Trần Phương rất lâu, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, người cộng sản gạo cội, con cưng một thời của Đảng CSVN đã phải nhận xét rằng người Cộng Sản bị phân đôi:

 

“Ngồi với nhau thì trao đổi chân thật, thì nói một đàng; mà khi họp lại bàn bạc, viết lên báo chí thì lại nói một nẻo. Trong mỗi người Cộng Sản có hai con người: con người thật và con người giả. Làm sao có thể xây dựng một xã hội mới với những con người giả. Làm sao có thể xây dựng một cái gì tốt đẹp và bền vững trên một nền tảng giả?”

 

Nhận xét của “ông bác sĩ cộng sản” Nguyễn Khắc Viện đem áp dụng vào “ông nhà thơ cộng sản” Tố Hữu thì không sai một chút nào: Chính ông ta đã là người đã làm cho bao nhiêu cuộc đời của những văn nghệ sĩ dính líu vào vụ Nhân văn - Giai phẩm bị “rạn vỡ. bị ruồng bỏ và bị lưu đày”; nhưng về cuối đời thì ông ta lại nói những lời “nhân nghĩa bà Tú Đễ” khiến ai nghe cũng muốn ứa gan và khinh bỉ về chuyện nói láo trắng trợn không biết ngượng của một kẻ đã từng “hét ra lửa, mửa ra khói” đối với những trí thức và văn nghệ sĩ hàng đầu miền Bắc.

 

Không ai tố cáo chồng chính xác bằng vợ. Người cộng sản tố cáo người cộng sản thì chắc chắn phải là sự thật. Ông Bùi Quang Triết, tức cố nhà văn Xuân Vũ là người miền Nam tập kết ra Bắc, sau khi thấy rõ mặt thật của thiên đường xã hội chủ nghĩa do “Bác” Hồ xây dựng, nhà văn bèn “tung cánh chim tìm về tổ ấm”. Ông nhà văn “chiêu hồi” Xuân Vũ khi định cư tại Hoa Kỳ đã viết về những nạn nhân của nhà thơ Tố Hữu, người đã từng làm Phó Thủ Tướng của nước Cộng Hoà Xã Nghĩa Việt Nam như sau:

 

“… Ai cũng biết ở miền Bắc có hai nhà trí thức lớn nhất dân tộc Việt Nam: Đó là cụ Nguyễn Mạnh Tường và cụ Trần Đức Thảo. Cụ Nguyễn được phép sang Paris chơi vài tháng đâu hồi 92 thì phải. Về Hà Nội cụ viết cuốn “Kẻ bị khai trừ”. Người ta hỏi, cụ không sợ bị tù à? Cụ bảo tôi 82 tuổi rồi còn sợ gì?

 

Cụ Trần cũng được Hà Nội cho sang Paris công tác (gì đó không hiểu - vận động trí thức Pháp và trí thức nước ta chăng?). Ở đây cụ đã nói chuyện trước nhiều loại thính giả. Trong một cuộc nói chuyện cụ bảo: "Chính Mác sai!” Người ta hỏi tại sao? Cụ bảo: “Mác lấy các điểm trong duy tâm luận của Hégel (không phải Angels) ra làm duy vật biện chứng. Duy tâm áp dụng trên trời dù có sai cũng chẳng hại ai, còn duy vật đem ra dùng trên mặt đất sẽ làm chết người. (Mà chết người thật! Chết hàng trăm triệu người chớ không ít). Chỉ vài hôm sau, cụ qua đời.  

 

Ai cũng biết Nhóm Nhân văn - Giai phẩm gồm toàn văn nghệ sĩ ưu tú của dân tộcđi kháng chiến 9 năm trở về Hà Nội, hãy còn chân ướt chân ráo đã quay ra chống Đảng quyết liệt: Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt.

 

Phần lớn là đảng viên. Thế có lạ không?

 

Tại sao họ không yêu Đảng của họ nữa? Hỏi tức là trả lời vậy.

Nhạc sĩ Văn Cao vừa mới qua đời. Trước khi nhắm mắt, ông nói: "Bây giờ tôi không còn sợ gì nữa. Tôi cứ nói…. Tố Hữu đã ‘phạt’ tôi 30 năm không sáng tác được gì”.

 

Đau đớn cho ông là năm 1994, trong một buổi lễ phát phần thưởng về âm nhạc, ông được xếp hạng 13 (gần hạng bét) đáng lẽ phải là hạng nhất, không có hạng 2 đến hạng 10.

 

Trên đây tôi vừa liệt kê một vài trường hợp trí thức văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa chống Đảng, thà chịu khổ nhục nhận “hình phạt đày ải” của đảng Cộng sản, chớ không thay đồi thái độ với nó kể từ khi họ bắt đầu "ghét” Đảng. Nhìn kỹ lại không thấy ai nói “ghét” thành “yêu” đối với CS bao giờ. Những người trước kia yêu, nay cũng ghét Đảng.

Khi đọc những bài tường thuật về các buổi nói chuyện của cụ Trần Đức Thảo ở Paris, tôi mới thấy não lòng. Một triết gia độc nhất của Việt Nam được người ngoại quốc kính nể trên thế giới lại không được dùng đúng chỗ ở chính quê hương mình. Phải biết rằng chính cụ cũng mê Mác-xít khi còn ở Paris nên cụ đã xin về Việt Nam để phục vụ đất nước trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, xây dựng thiên đàng. Về đến nơi thì than ôi! Thiên đàng đâu không thấy chỉ thấy tang thương địa ngục. Nhiều người đứng ở ngoài xã hội chủ nghĩa cứ tưởng nó là thiên đường. Nhưng khi nhảy vào sống với nó rồi mới biết mặt mũi nó mồm ngang, miệng dọc ra sao. Chừng đó có muốn thối lui cũng không được. Phải dũng cảm ghê gớm mới dứt nổi “đường tơ”. Nếu Mác bảo tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc con người thì Mác-xít chính là thuốc độc giết chết con người. Và tác hại vô cùng cho dân tộc nào cưu mang nó. Picasso về già mới trả thẻ đảng. Howard Fast cũng xin ra đảng lúc gần đất xa trời. Phải khó khăn lắm mới nhận ra được mặt thật của nó. Chẳng thế mà dân Liên Xô bị bịp trên 70 năm?

 

Tôi cũng đã sống 10 năm trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tôi không có lý luận như cụ Trần, nhưng bằng cảm tính nảy ra trong sinh hoạt hàng ngày, trước tiên tôi thấy chủ nghĩa Mác nó kỳ cục. Nếu biết trước nó như thế này thì không ai đi đánh Tây làm gì. Bởi vì như Nguyễn Chí Thiện nói (đại ý):

 

So với Đảng thì móng vuốt Thực dân êm dịu gấp 10 lần!”

 

Nhưng đã lỡ nhúng chàm rồi, có nhiều người đành cam chịu, không nói ra, để cho những người hậu tiến mắc lầm như mình. Dại rồi nên ngừa cho người khác đừng dại như mình.

 

… Người Cộng Sản hễ nói là nói láo. Nhưng trước đây vẫn có nhiều người tin. Tin rằng chính sách hợp tác xã, tổ chức quốc doanh đều tuyệt vời, tin rằng Liên Xô là số dách. Nay thì dân chúng đã thấy rõ giữa miền Bắc và miền Nam ai hơn ai, giữa Liên Xô và Hoa Kỳ ai đi trước ai (những 50 năm).

 

Tất cả nhân loại đều đã bừng mắt trước một sự thực vô cùng rõ rệt: chủ nghĩa Cộng sản chỉ là một sự ngu xuẫn và chính những kẻ theo đuổi nó gần 1 thế kỷ nay cũng không hiểu nó là cái gì…”

*

Nhà thơ cộng sản Tố Hữu đã chết!

 

Nhà văn Xuân Vũ  “tay trót nhúng chàm” theo cộng sản - như lời  tự thú  của ông, sau đó đã từ bỏ thiên đường cộng sản, đã chết!

Những người trong nhóm Nhân Văn - Giai phẩm mà cuộc đời của họ đã bị ông Tố Hữu làm cho “rạn vỡ, bị ruồng bỏ và bị lưu đày” cũng đã chết!

 

Bi thảm nhất là cái chết của ông Nguyễn Hữu Đang, kẻ đã dựng lễ đài để ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn. Cả cuộc đời của ông đã bị trù dập đến tận cùng bằng số: “nhà” của ông là một lõm sâu bằng thân mình ông cạnh một khóm tre làng, cứ như là một huyệt mộ của ông ngay khi còn sống. Sinh kế của ông là mỗi ngày đi nhặt các báo thuốc lá để đổi cóc, nhái từ bọn trẻ con trong làng để nấu ăn. Và ông đã sống như thế cho đến khi nhắm mắt lìa đời.

Viết đến đây tôi cảm thấy tim mình đau nhói.

 

“Tôi không biết khóc bao giờ

Mà sao giọt lệ ấm bờ mi thâm?

 

- nói theo cách nói của một nhà thơ nào mà tôi đã quên tên.

 

Những người trí thức, những văn nghệ sĩ của chế độ, đã góp phần xây dựng chế độ ngay từ đầu mà còn bị ruồng bỏ, bị trừng phạt thê thảm, khủng khiếp đến như thế thì còn nói gì đến những người đã từng đối đầu với chế độ!

*

Hình như nói dối là cái “gen” di truyền từ ông Hồ Chí Minh đến các lãnh tụ thừa kế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

Người thừa kế xuất sắc cái “gen” nói dối di truyền của “Bác” Hồ là nhà thơ Tố Hữu - nói dối không biết ngượng miệng, nói dối  không chớp mắt, nói dối cứ như thiệt!

 

Cái “gen” nói dối của “Bác” Hồ, của cố Phó Thủ Tướng Tố Hữu đang di truyền qua Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

 

Ông nói chống tham nhũng thì lại là Vua Tham Nhũng!

 

Ông thì tuyên bố “trừ sâu trong nồi canh”; nhưng chắc chắn là sẽ có hàng trăm bầy sâu do ông ta… đẻ ra vì ông ta là Vua Sâu Bọ!

 

Và ông Tổng bí thư “Mạc” Phú Trọng thì lúc nào cũng lăm le tự trói tay, trói chân quỳ lết đem giang san gấm vóc của tổ tiên đem dâng cho giặc phương Bắc để giữ vững ngai vàng!

*

Trong tác phẩm “Darkness At Noon” (tạm dịch Bóng Tối Giữa Trưa) của Arthur Koestler có nhân vật Rubakov - lãnh tụ đảng CS - lúc sắp bị hành quyết về tội phản đảng đã quỳ xuống sám hối và tạ lỗi. Không tạ lỗi với Đảng, với Nhà Nước, với chủ nghĩa Mác-Lê. Mà tạ lỗi với đồng bào, với tổ quốc, với lịch sử!

 

Bao giờ thì lãnh đạo đảng CSVN sẽ quỳ xuống sám hối và tạ lỗi với đồng bào, với tổ quốc, với lịch sử?!

 

NGUYỄN THIẾU NHẪN

tieng-dan-weekly.blogspot.com

 

 

k768kq] Fw:  HỒI KÝ THA HỒ MÀ ĐỌC MÀ NGHE

Monday, April 15, 2013 10:17 PM

From:Dq

To:k768



 Lúc nào rảnh cứ nhẩn nha đọc hoặc nghe, bảo đảm "không bổ bề ngang cũng bổ... bề dọc"                                                                                                                                                                    LãoNgoanĐồng OKC                     


                       HỒI KÝ SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT  CỦA DUYÊN ANH
 
1      2      3      4      KỲ CUỐI

HỒI KÝ CỦA GIÁO SƯ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

(Xin Qúy Vị Bấm vào từng số bên dưới để đọc)

1      2      3      4           6      7      8      Kỳ Cuối


HỒI KÝ TRẦN ĐỘ

(Xin Qúy Vị Bấm vào từng số bên dưới để đọc)

1      2      3     4      5

HỒI KÝ ĐỒNG BẰNG GAI GÓC CỦA XUÂN VŨ

(Xin Qúy Vị Bấm vào từng số bên dưới để đọc) 

1      2      3      4
HỒI KÝ ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN CỦA XUÂN VŨ

1      2      3

HỒI KÝ MẠNG NGƯỜI LÁ RỤNG CỦA XUÂN VŨ
 
1      2      3      4      5  
HỒI KÝ ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN CỦA XUÂN VŨ
 
1      2      3      4      5
HỒI KÝ XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG SƠN CỦA XUÂN VŨ:


1      2       3       4      5      6      Kỳ Cuối

NHẠC SỸ TÔ HẢI - HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN

1           3     4          Kỳ Cuối
HỒI KÝ CỦA LINH MỤC CAO VĂN LUẬN: 
BÊN GIÒNG LICH SỬ

1.    2.   3.    4.    5.    6.    7.    8.    9.    10.    11.    12.    13.    14.    15.
 
HỒI KÝ NGUYỄN HỮU HANH:

(Xin Click vào từng số bên dưới để đọc)

 1    2    3    4    5    6    7    8    9    10
 
HỒI KÝ CỦA TRẦN QUANG CƠ
 
1. KỲ 1   2.  KỲ 2    3. KỲ 3   4.  KỲ CUỐI
 
 HỒI KÝ TÔI ĐI TÌM TỰ DO CỦA NGUYỄN HỮU CHÍ:
 

 HỒI KÝ VÕ LONG TRIỀU: MỐC LỊCH SỬ
(Xin bấm Vào từng Link bên dưới để đọc)
 
.

 

  HỒI KÝ TÔI PHẢI SỐNG - LINH MỤC NGUYỄN HỮU LỄ


 
HỒI KÝ ĐÊM GIỮA BAN NGÀY - VŨ THƯ HIÊN
Để thấy rõ thêm về bộ mặt thật của Hồ Chí Minh và Tập Đoàn Cộng Sản Việt Nam cũng như để hiểu rõ hơn về sự bịp bợm, mị dân qua cái gọi là GÓP Ý DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 của Bên Thắng Cuộc, kính mời quý vị đọc lại ĐÊM GIỮA BAN NGÀY của VŨ THƯ HIÊN:
 
 
BÊN THẮNG CUỘC
  Phần I:

1.  CHƯƠNG I    2. CHƯƠNG 2 A    3. CHƯƠNG 2 B    4.  CHƯƠNG 3
5. CHƯƠNG 4    6. CHƯƠNG 5    7. CHƯƠNG 6    8. CHƯƠNG 7
9. CHƯƠNG 8     CHƯƠNG 9     CHƯƠNG 10    CHƯƠNG 11
Phần II
1. CHƯƠNG 12    2. CHƯƠNG 13    3. CHƯƠNG 14    4. CHƯƠNG 15
5. CHƯƠNG 16    6. CHƯƠNG 17    7. CHƯƠNG 18    8. CHƯƠNG 19
9. CHƯƠNG 20     CHƯƠNG 21    CHƯƠNG 22    CHƯƠNG -  KẾT




 

 

USIA gián-tiếp giải nghĩa cuộc chiến VN
 
Từ chuyện thắng và bại chỉ cần đặt hàng cho một đặc ân Huy Đức dự thính đại học Harvard rồi viết chuyện ai thắng cuộc, đồng thời USIA cho đài VOA, BBC mở toang để cho tha hồ cái gọi là Quốc Gia và Cộng Sản tranh luận chửi bới nhau "đã đời" đến khi tìm ra chân lý ... chẳng có bên nào thắng cả mà chỉ từ thua tới liệt ... cho thân phận CON RỐi ... nếu chúng tao (cường quốc) không cung cấp đạn AK với M-16 thì làm "đếch" gì mà có kẻ thắng người thua mà chửi nhau như búa bổ ... "nhiêu đó thôi ngừng ngay những cái đầu to mà óc nhỏ"
 
      Huy Đức được đặt hàng chỉ thuần túy nêu sự kiện, không bình luận, theo đúng với ý đồ của secrets of the Tomb là: phải rõ ràng trong sáng. "Thắng Cuộctượng trưng chỉ là tờ điều trần với người đọc không cứ ở phía nào của cuộc chiếnĐọc BTC, người đọc tự tìm ra phần lớn các câu hỏi: Cái gì, ở đâu, khi nào, Ai, tại sao (What, where, when, who, why)... để cuối cùng kết quả Miền Bắc mới thật được GIẢI PHÓNG qua chứng thực sau 30 năm. Với những hệ luận tốt xấu đi theo, người đọc tự tìm ra kết luận cho mình về công lao tự suy luận như đã có lần quyết đoán sai lầm
Ngày nay, là thời đại Internet dù cho gian manh cách mấy cũng không gạt nỗi đọc giả đâu các vị ạ ! Trách nhiệm của từng sự việc, từng chặng đường của đất nước. với 20 năm thu góp tư liệu, tôi tin tác giả "BTC" chỉ là phần giới thiệu chứ chưa là phần kết luận của Huy Đức mà cũng chẳng có tì gì gọi rằng một sữ gia. Với tầm nhìn xa, rộng, tâm trong sáng, tôn trọng đọc giả, phương pháp làm việc khoa học, chắn chắn những tác phẩm tới của Huy Đức sẽ được đọc giả nồng nhiệt hưởng ứng. Cái khôi hài nhứt là bên phía Cộng Sản cũng chữi bới và bên phía người Việt hải ngoại cũng không tha tác giả.
 
Tuy nhiên, Huy Đức thừa hiểu người xưa trọng tín nghĩa, niềm tin vững như núi non, mà còn bị lay chuyển bởi dư luận. Việt nam chỉ là con cờ trong cuộc chiến ý thức hệ của nước lớn và chúng ta đã "đánh thắng chúng ta bằng chính thân xác máu xương của cả dân tộc" đã đổ ra vì lợi ích của chúng nó. Các bạn chỉ cần biết "chủ nghĩa cộng sản" và "thế giới tự do" ai thắng ai đó mới là vấn đề...Nếu không có đạn AK hay M-16 thì làm gì có cảnh nồi da xáo thịt ... Ai ngu hơn ai? Vậy mà người viết đặt tên cuốn sách là "Lê Dương Mới" thì có kẻ vì tự ái dân tộc máu dồn lên tới cổ họng ... oé lên! Nhưng xét cho cùng khi hai kẻ thù cho cái gọi là "không đội trời chung", nhưng khi lật ngửa hai xác chết để nhìn mặt thì là người Việt, nhưng ác nghiệt thay cây súng đem sự chết chóc đó không phải do nước mình làm ra ... ấy vậy thế mà lòng tự ái dồn dập nổi lên cuồn cuộn như muốn ăn tươi nuốt sống tác giả   của 2 tác phẫm Lê Dương Mới!

Nay ta lại thấy giữa thế kỷ 21, 
CNCS đã tự tiêu diệt vì ...internet, TV, thông tin nhiều chiều - Tất cả điều "khó nghe" đều xuất phát từ bộ óc không bình thường bởi một "tôn giáo duy vật biện chứng cuồng tín". Ôi! Có phải khi yêu chế độ, ta không cần đôi mắt? Khi si, ta không cần bộ não. Vì khi yêu, có mắt là thừa thãi; đôi mắt có khi làm hỏng "tình yêu" của ta, khi nhận ra người tình mình khập khểnh sỏ lá như các đồng chí XNhưng khi si rồi, ta chẳng cần trí não, vì biết đâu ta nhận ra người yêu mình không được bình thường? Thà mất đi đôi mắt, chẳng cần bộ não, người yêu ta luôn là người đẹp nhất trên đời, và tình yêu ta sẽ như ngọn lữa không bao giờ tắt, luôn đẹp như trong giấc mơ. Thà cứ sống trong giấc mơ, còn hơn để giấc mơ phải sống trong đời rất thật của cuộc đời. Ta say hay ta tỉnh, chỉ biết là ta tỉnh nhưng có thể đang say theo chế độ!
.
Secret of the Tomb muốn ngầm nói ra cái thế "Bên Kẻ Mạnh" (On the strongman side) sau khi mất miền Nam: là VNCH thua để thắng và cộng sản thắng để thua cùng nghĩa Mỹ thua để thắng LX bằng phản tình báo qua thằng bé ... BBC News - MathiasRust: German teenager who flew to Red square 1987 Tháng Tư Đen 1975 cộng sản thắng trong ồn ào máu lửa để "thống nhứt", nay chúng chết rụi tàn trong bóng đêm cũng vào một tháng Tư Đen 2013 để có "độc lập tự do"
 
Từ chuyện thắng và bại, nhân tháng TƯ ĐEN thử nhìn lại chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-75. Liên quan đến cuộc chiến tranh ấy, cho đến nay, hầu như mọi người đều khẳng định: Việt Nam (hiểu theo nghĩa là miền Bắc Việt Nam) đã thắng Mỹ. Bộ máy tuyên truyền Việt Nam lúc nào cũng ra rả điều đó. Ngay người Mỹ cũng tự nhận là họ thua: Đó là cuộc chiến tranh đầu tiên mà họ thua trận! Điều đó đã trở thành một chấn thương (trauma) dữ dội đối với một siêu cường quốc số một thế giới như Mỹ khiến nhiều người trong họ không ngừng trăn trở. Chiến tranh Việt Nam, do đó, với họ, trở thành một cuộc-chiến-chưa-kết-thúc (unending war) hoặc một chiến tranh vô tận (endless war) theo cách gọi của các học giả thiết kế sách-lược Eurasian.

Dĩ nhiên, nhiều người nghĩ khác. Họ không chấp nhận họ thua trận với một trong ba lý do chính:
- MỘT, một số người cho, về phương diện quân sự, quân đội Mỹ hầu như luôn luôn chiến thắng, hơn nữa, tính trên tổng số thương vong, họ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương: trong khi Mỹ chỉ có gần 60.000 người chết, phía miền Bắc, có khoảng từ một triệu đến một triệu rưỡi người bị giết (từ phía người Việt Nam, chúng ta biết rõ điều này: Trong đó có rất nhiều dân sự ở cả hai miền!) Những người này cho họ chỉ thua trên mặt trận chính trị; và trong chính trị, họ không thua Bắc Việt, họ chỉ thua… những màn ảnh TV hằng ngày chiếu những cảnh chết chóc ghê rợn ở Việt Nam trước mắt hàng trăm triệu người Mỹ, từ đó, làm dấy lên phong trào phản chiến ở khắp nơi, cũng do diển viên trung úy phản chiến John F Kerry chịu dấn thân làm vận động viên cho sách lược. Nói cách khác, Mỹ không thua Bắc Việt: Họ chỉ thua chính họ, nghĩa là họ không thể tiếp tục kéo dài chiến tranh trước sự thiếu kiên nhẫn của quần chúng theo như ý đồ của Secret Society: "có vào phải có ra", trước quyền tự do ngôn luận và phát biểu của quần chúng, trước nhu cầu phát triển kinh tế trong nước. Nhưng trong sách "The New Legion" của Vinh Trương được chứng minh bằng đáp số trước khi quân Mỹ vào, bằng buổi họp NSC, ngày 21/9/ 1960 với đáp số: 
 
The author discusses the three Axioms in the dominant interpretation of the U.S.-Vietnam War that were established by the invisible permanent government right after the National Security Council meeting on September 21, 1960.
- (1) They are: - There was never a legitimate non-communist government in Saigon (dissolution GVN) -
- (2) The U.S. had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs (Tonkin-Gulf-Incident) -
- (3) The U.S. could not have won the war under any circumstances (U.S. troops honorable withdrawal) 

- HAI, một số người khác lại lý luận: Mặc dù Mỹ thua trận năm 1975, nhưng nhìn toàn cục, họ lại là người chiến thắng. Một người Mỹ gốc Việt, được đặt hàng, Viet D. Dinh, giáo sư Luật tại Đại học Georgetown University, trên tạp chí Policy Review số tháng 12/2000 và 1/2001, quan niệm như vậy, trong một bài viết có nhan đề “How We Won in Vietnam” (tr. 51-61): “Chúng ta thắng như thế nào tại Việt Nam.” Ông lý luận: Mỹ và lực lượng đồng minh có thể thua trận tại Việt Nam nhưng họ lại thắng trên một mặt trận khác lớn hơn và cũng quan trọng hơn: Cuộc chiến tranh lạnh chống lại chủ nghĩa Cộng sản trên toàn thế giới (tr. 53). Hơn nữa, cùng với phong trào đổi mới tại Việt Nam cũng như việc Việt Nam tha thiết muốn bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, Mỹ cũng đã thắng trên mặt trận lý tưởng và chính nghĩa: Cuối cùng thì Việt Nam cũng đã theo Mỹ ít nhất một nửa: tự do hóa thị trường (Còn nửa kia, dân chủ hóa thì chưa! tr. 61, nhưng trung úy phản chiến John Kerry, bây giờ là BTNG sẽ hoàn thành sau cùng)
Một số người khác lại cho, sau khi rút quân khỏi Việt Nam, nhìn lại, người Mỹ thấy Việt Nam đang lủi thủi chạy theo sau mình trên con đường tư bản hóa. Họ khẳng định: “Chúng ta đã chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam bằng cách rút quân ra khỏi nơi đó thật là một sách lược thần sầu quỷ khốc của siêu chiến lược gia thiết kế George Kennan (1904-2005)”

- Ba, một số người khẳng định dứt khoát: Mỹ không hề thua Bắc Việt. Chiến thắng của miền Bắc vào tháng Tư1975 là chiến thắng đối với miền Nam chứ không phải đối với Mỹ. Lý do đơn giản: Lúc ấy, hầu hết lính Mỹ đã rút khỏi Việt Nam. Trước, ở đỉnh cao của cuộc chiến, Mỹ có khoảng nửa triệu lính ở Việt Nam. Sau Tết Mậu Thân, thực hiện chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, lính Mỹ dần dần rút khỏi Việt Nam: Tháng 8/1969, rút 25.000 lính; cuối năm, rút thêm 45.000 người nữa. Đến giữa năm 1972, lính Mỹ ởViệt Nam chỉ còn 27.000. Tháng 3/1973, 2.500 người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Làm sao con người bình thường hiểu nổi sách lược Skull & Bones 322,đây là cuộc huấn luyện nuôi quân lớn nhứt trong lịch sử Mỹ để: "Bảo đảm phi đội hàng không dân dụng từ thế hệ chong chóng qua phản lực Boeing không bị Bankruptcy vì có khoảng trên 3 triệu hành khách GI booked vé trước theo đúng lịch trình tuần tự qua lại của Lính Mỹ, đồng thời sản xuất được 5.000 trực thăng phản lực Hueys tạo biết bao việc làm cho sự phồn vinh của nước Mỹ? chưa kể những dịch vụ khác như thí nghiệm vũ khí mới làm cho tư bản Mỹ tha hồ hốt bạc và nước Mỹ mới có quyền bắt nạt các nước khác?
Từ đó, ở Việt Nam, Mỹ chỉ còn khoảng 800 lính trong lực lượng giám sát đình chiến và khoảng gần 200 lính Thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại sứ ở Sài Gòn. Trong trận chiến cuối cùng vào đầu năm 1975, lúc Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, không có cuộc giao tranh nào giữa quân BV và Mỹ cả. Chính vì vậy, một số người Mỹ đặt câu hỏi: Tại sao có thể nói là chúng ta thua trận khi chúng ta đã thực sựchấm dứt cuộc chiến đấu cả hơn hai năm trước đó mà Hà Nội có đánh thắng nổi VNCH đâu? Ấy vậy mà Secret Society đặt hàng tiến sĩ Hưng viết "Khi Đồng Minh Tháo Chạy" tạo hoả mù để rút ra nhẹ re như bò kéo xe

Có thể tóm tắt lập luận thứ ba ở trên như sau: Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ chỉ bỏ cuộc chứ không thua cuộc.

Một số người phản bác lập luận ấy. Họ cho: bỏ cuộc tức là không hoàn thành được mục tiêu mình đặt ra lúc khai chiến; (Tôi cần phải nhắc lại "định kiến-3" trong cuốn "The New Legion" có viết đáp số cho biết là rút lui danh dự sau khi trả đủa vụ Vịnh BV) không hoàn thành mục tiêu ấy cũng có nghĩa là thua cuộc không có gì khác nhau cả. (Trong tờ "tự khai" khi ở tù, tôi có viết nếu Mỹ trang bị trên AC-119, AC-130 có hệ thống bắn tầm nhiệt 106 ly và đại bác 40 ly như AC-130 của Mỹ, thì chả có chiếc Molotova nào chạy   được đến vỉ tuyến 16 chớ đừng nói vào đến miền nam) Bởi vậy National Military Analysis mới nói chúng ta cần nghe ông TRƯƠNG nói về sự thật Chiến Tranh VN như 3 định kiến trên (axiom) Nhưng ở đây tôi nên nẫy ra một vấn đề: Mục tiêu Mỹ đặt ra lúc tham gia vào chiến tranh Việt Nam để làm gì?

Có hai mục tiêu chính:

- (1) Giúp đỡ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam trong cuộc đối đầu với chế độ Cộng sản ở miền Bắc. (Lê Duẩn tuyên bố đánh thuê cho TQ và LX)

- (2) Ngăn chận làn sóng Cộng sản từ Trung Quốc đổ xuống Việt Nam, và từ đó, toàn bộ vùng Đông Nam Á.

Tập trung vào mục tiêu thứ nhất, nhiều người cho Mỹ thua trận ở Việt Nam. Đó làđiều không thể chối cãi được: cuối cùng, vào ngày 30/4/1975, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ (theo đáp số-1 axiom-1, xem chi tiết trong sách The New Legion)

Tuy nhiên, xin lưu ý: trong hai mục tiêu trên, mục tiêu thứ hai mới là quan trọng nhất. Khi lính Mỹ mới được điều sang Việt Nam, họ luôn luôn được nhắc nhở đến mục tiêu thứ hai: “Nếu chúng ta không đến đây để ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, chúng ta có thể sẽ phải chiến đấu chống lại nó tại bờ biển Waikiki, Honolulu sau này.” Mục tiêu đầu, nhằm xây dựng một chế độ dân chủ không Cộng sản ở miền Nam, chỉ thỉnh thoảng mới được nhắc đến, nhưng BTNG John F Kerry đang thực thi cho một VN thống nhứt có dân quyền để trởthành một Do-Thái phương Đông

Có thể nói mục tiêu thứ nhất được đặt ra để cụ thể hóa mục tiêu thứ hai. Nói cách khác, chính vì muốn ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, Mỹ mới nhảy vào giúp chính quyền miền Nam. Mục tiêu thứ nhất, như vậy, chỉ là hệ luận của mục tiêu thứ hai. Nó chỉ là mục tiêu phụ.

Liên quan đến mục tiêu thứ hai, nên nhớ đến thuyết Domino vốn xuất hiện từ năm 1951, thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh, và được xem là nền tảng lý thuyết cho các chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ đầu thập niên 1960 trở đi nó nằm trên trục Eurasian. Dựa trên thuyết Domino, chính phủ Mỹ tin là: Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, Miến Điện và Thái Lan sẽ bị Cộng sản chiếm gần như ngay tức khắc. Sau đó, sẽ rất khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả, để cho Indonesia, Ấn Độ và các nước khác tiếp tục nằm ngoài quỹ đạo thống trị của Cộng sản Xô Viết.” Nghĩ như thế, chính phủ Mỹ đã xem Miền Nam như một tiền đồn để ngăn chận hiểm họa cộng sản.

Nếu chỉ nhìn vào mục tiêu thứ hai này - mục tiêu ngăn chận làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á - không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại. Ngược lại. Năm 1972, sau chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng thống Nixon, Mỹ đã thành công ở ba điểm: (1), bước đầu bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước để, tuy chưa hẳn là bạn, họ cũng không còn thù nghịch với nhau như trước nữa; (2), khoét sâu mối mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô để hai nước đứng đầu khối Cộng sản này không còn thống nhất với nhau; và (3), làm giảm bớt sự ủng hộ và trợ giúp của Trung Quốc đối với Bắc Việt ngay thời buổi đó.

Với ba sự thành công ấy, Mỹ an tâm được ba điều:
 
(1) - khi Trung Quốc và Liên Xô đã bị phân hóa, khối Cộng sản không còn mạnh và do đó, cũng không còn quá nguy hiểm như trước.
 
- (2) - khi khối Cộng sản không còn mạnh, đặc biệt khi Trung Quốc đang rất cần duy trì quan hệ hòa bình với Mỹ để phát triển kinh tế và tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô, Trung Quốc sẽ không còn tích cực “xuất cảng cách mạng” ở các nước khác trong vùng Đông Nam Á.
- (3) - như là hệ quả của hai điều trên, Mỹ tin chắc: ngay cả khi miền Bắc chiếm được miền Nam và ngay cả khi cả Campuchia và Lào đều rơi vào tay Cộng sản thì chủ nghĩa Cộng sản cũng không thể phát triển sang các nước khác như điều họ từng lo sợ trước đó.

Với ba sự an tâm trên, Mỹ quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam. Với họ, mục tiêu thứ hai, tức mục tiêu quan trọng nhất, đã hoàn tất thì mục tiêu thứ nhất trở thành vô nghĩa. Miền Nam chỉ còn là một nước cờ chứ không phải là một ván cờ. Họ thua một nước cờ nhưng lại thắng cả một ván cờ bằng thế "Bên Kẻ Mạnh" (On The Strongman Side).

Thắng ở ba điểm:

Một, sau năm 1975, chủ nghĩa Cộng sản không hề phát triển ra khỏi biên giới Lào và Campuchia. Các nước láng giềng của Đông Dương vẫn hoàn toàn bình an trước hiểm họa Cộng sản.

Hai, sau khi chiếm miền Nam, chủ nghĩa Cộng sản ở Á châu không những không mạnh hơn, mà ngược lại, còn yếu hơn hẳn. Yếu ở rất nhiều phương diện. Về kinh tế, họ hoàn toàn kiệt quệ. Về quân sự, họ liên tục đánh nhau. Về đối nội, họ hoàn toàn đánh mất niềm tin của dân chúng, từ đó, dẫn đến phong trào vượt biên và vượt biển rầm rộ làm chấn động cả thế giới. Về đối ngoại, họ hoàn toàn bị cô lập trước thế giới với những hình ảnh rất xấu: Ở Khmer Đỏ là hình ảnh của sự diệt chủng; ở Việt Nam là hìnhảnh của sự độc tài và tàn bạo; ở Trung Quốc, sự chuyên chế và lạc hậu. Cuối cùng, về ý thức hệ, ở khắp nơi, từ trí thức đến dân chúng, người ta bắt đầu hoang mang hoài nghi những giá trị và những tín lý của chủ nghĩa xã hội: Tầng lớp trí thức khuynh tả Tây phương, trước, một mực khăng khăng bênh vực chủnghĩa xã hội; sau, bắt đầu lên tiếng phê phán sự độc tài và tàn bạo của nó. Một số trí thức hàng đầu, như Jean-Paul Sartre, trở thành những người nhiệt tình giúp đỡ những người Việt Nam vượt biên.

Ba, vào năm 1990, với sự sụp đổ của Liên Xô, của bức tường Berlin và của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Mỹ toàn thắng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Ván cờ kéo dài nửa thế kỷ giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa tư bản đã kết thúc.

Nhìn vào ba sự thành công ấy, khó có thể nói Mỹ đã thua trận ở Việt Nam. Lại càng không thể nói là miền Bắc Việt Nam đã thắng Mỹ.

Cũng cần lưu ý đến những sự thay đổi trong bản chất của chiến tranh. Từ giữa thế kỷ 20 trở về trước, hầu hết các chiến lược gia, khi nghĩ về chiến tranh,đều cho cái đích cuối cùng là phải chiến thắng một cách tuyệt đối. Tiêu biểu nhất cho kiểu chiến thắng tuyệt đối ấy là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai. Ở cả hai lần, những kẻ thù của phe Đồng minh đều tuyên bố đầu hàng. Ranh giới giữa thắng và bại rất rõ. Rõ nhất là ở Nhật Bản. Sức tàn phá kinh hồn của hai trái bom nguyên tử do Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki đã chứng tỏ sức mạnh vô địch không thể chối cãi được của người chiến thắng. Còn cuộc chiến nhỏ do Mỹ tạo nên Đông Dương và Trung Đông để kiếm lợi nhuận, rồi hô hoảng THUA để thế giới không thịnh nộ, nhưng Mỹ hốt khá nhiều lợi nhuận qua quân sự yễm trợ kinh tế và điểm quan trọng là ngôi vị siêu cường nằm chót vót trên cao, không nước nào bắt kịp

Tuy nhiên, sau hai quả bom ấy, bản chất chiến tranh và cùng với nó, ý nghĩa của chiến thắng, hoàn toàn thay đổi. Trong chiến tranh lạnh, cả Mỹ lẫn Liên Xô đều có bom nguyên tử. Lúc nào cũng muốn tiêu diệt nhau nhưng cả hai đều biết rất rõ cái điều Albert Einstein từng cảnh cáo: “Tôi không biết trong chiến tranh thếgiới lần thứ ba người ta đánh bằng gì, nhưng trong chiến tranh thế giới lần thưtư, người ta sẽ chỉ có thể đánh nhau bằng gậy và đá.” Thành ra, người ta vừa chạy đua chế tạo thật nhiều, thật nhiều vũ khi nguyên tử vừa biết trước là chúng sẽ không được sử dụng. Không nên được sử dụng. Không thể được sử dụng. Đểtránh điều đó, chiến tranh toàn diện (total war) biến thành chiến tranh giới hạn (limited war); chiến tranh thế giới biến thành chiến tranh khu vực, ở một số điểm nóng nào đó. Ý nghĩa của cái gọi là chiến thắng, do đó, cũng đổi khác: bên cạnh cái thắng/bại về quân sự có cái thắng/bại về chính trị và bên cạnh cái thắng/bại có tính chiến thuật có cái thắng/bại có tính chiến lược.

Với những thay đổi ấy, chuyện thắng hay bại lại càng trở thành phức tạp hơn, nhưng điều chắc chắn để Miền Bắc thắng đở hao dollar hơn Miền Nam thắng.

Phần kết luận, có hai điểm tôi xin nói cho rõ:

Thứ nhất, tôi chỉ muốn tìm hiểu một sự thật lịch sử chứ không hề muốn bênh vực cho Mỹ.

Thứ hai, dù Mỹ thắng hay bại, sau biến cố tháng 4/1975, miền Nam vẫn là nạn nhân. Trên phạm vi quốc tế, ngoài miền Nam Việt Nam, Đài Loan là một nạn nhân khác, tuy không đến nỗi bất hạnh như chúng ta, đó là lý do tại sao Harriman giải nhiệm chức tư lệnh của thống tướng Mc Arthur và đại tướng Westmoreland.   
 
Nhưng về toàn cục nếu nói Mỹ thua trong chiến lược toàn cầu của họ là không đúng. Tôi đã nhiều lần giảng giải về Siêu Chiến Lược Eurasian trên 2 tác phẫm "The New Legion" Mỹ đã rút khỏi VN năm 1973 đúng lịch trình như định kiến-2 (axiom-2) và sau đó phe XHCN tan rã gần như toàn bộ. Về toàn cục Mỹ đã nghiễm nhiên chiến thắng mà không phải tốn một viên đạn mà bằng "tối huệ quốc" (Freedom Support Act). Hà Nội có thể sơ-khởi tự hào về chiến thắng của mình để chuận bị hoàn toàn thua trận trong ván cờ tàn!, nhưng người Mỹ cũng chả phải ray rứt vì sự rút lui ra khỏi VN của họ. Mỹ đã chiến thắng trong "chiến lược toàn cầu Eurasian" khi họ bỏ VN. Điều nầy minh định rỏ trong sách The New Legion ( militaryanalysis.blogspot.com/2012/04/vinh-truong.html ) do Viện Albert Eistein công bố ngày 12/4/2012, Mỹ thật sự đã nổi lên như một siêu cường số một sau khi họ bỏ VN!
 
KQ Trương Văn Vinh

 

Phải chăng sấm Trạng Trình đang ứng nghiệm

 
 
“Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khổ đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân dậu niên lai kiến thái bình.”

Long vĩ (2012) xà đầu (2013) là cuối năm con rồng đầu năm con rắn bắt đầu có chiến tranh ở khắp nơi. Hiện tại Bắc Hàn đe dọa tấn công Nam Hàn và Hoa Kỳ. Ở trung đông, Syria đang có chiến tranh dữ dội giữa người dân và kẻ cầm quyền, Iran và Palestine đe dọa tiêu diệt Do Thái. Do Thái có lẽ sẽ đánh phủ đầu Iran trước khi Iran có võ khí nguyên tử trong năm 2013. Ở Á châu Trung Quốc tranh chấp hải phận với Nhật Bản và Philipines, TQ chiếm biển đảo của Việt Nam. Chiến tranh giữa Nam và Bắc Hàn có thể xảy ra bất cứ lúc nào và sẽ kéo theo TQ, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Ấn Độ vào cuộc thì đúng là “can qua xứ xứ khổ đao binh”. “Mã đề dương cước anh hùng tận” đầu năm con ngựa (2014) cho đến cuối năm con dê sẽ có nhiều người chết vì chiến tranh. Chiến tranh nguyên tử có thể bùng nổ ở bán đảo Triều Tiên và lây sang TQ. TQ rất lo sợ là khi Bắc Hàn xử dụng võ khí nguyên tử thì Nam Hàn và Mỹ sẽ trả đũa bằng bom nguyên tử. TQ có chung biên giới với Bắc Hàn, TQ sẽ bị phóng xạ nguyên tử mà phải di cư nhiều chục triệu dân khiến kinh tế TQ gặp khủng hoảng. TQ bênh vực Bắc Hàn mà vào cuộc chiến thì Nhật Bản, Úc và Ấn Độ là đồng minh của Mỹ sẽ tấn công Bắc Hàn và TQ. Chiến tranh sẽ kéo dài từ năm con ngựa (2014) cho đến hết năm con dê (2015) với số người tử vong của các bên tham chiến rất cao. Bắt đầu năm con khỉ (2016) cho đến con gà (2017) mới nhìn thấy thái bình.

Nghe thì có vẻ trớ trêu nhưng điều tốt đẹp cho dân tộc Bắc Hàn chính là được Mỹ và Nam Hàn tấn công, chiếm đóng. Nếu Mỹ phải thả hai quả bom nguyên tử vào Bắc Hàn để tiêu diệt những lãnh đạo độc tài thì dân Bắc Hàn được thực sự giải phóng cho dù sẽ có một số dân chết lây trong chiến tranh. Hai quả bom nguyên tử sẽ tàn phá Bắc Hàn ít hơn và ngắn hạn hơn là sự tàn phá của đảng CS Bắc Hàn. Ban lãnh đạo Bắc Hàn như căn nhà đã bị mối mọt ăn rỗng ruột. Cách tốt nhất là đốt căn nhà để tiêu diệt toàn bộ mối mọt và xây cất lại nhà mới tốt đẹp hơn. Mỹ đã từng chấm dứt chiến tranh với Nhật bằng hai quả bom nguyên tử và dẹp đi chế độ độc tài phong kiến ở Nhật và giúp nước Nhật xây dựng lại như ngày hôm nay. Nhật Hoàng ngày nay chỉ còn là biểu tượng chứ không trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia. Cái may mắn của đất nước Đại Hàn là vẫn còn có một nửa là Nam Hàn giàu mạnh, dân trí cao và được Mỹ giúp đỡ tận tình. Khi Đại Hàn thống nhất và không còn bị độc tài cộng sản ngự trị thì đất nước Đại Hàn sẽ có thêm tài nguyên và nhân lực xây dựng đất nước. Nam Bắc Hàn sẽ thống nhất tương tự như Đông Đức và Tây Đức và trở thành cường quốc thế giới. Dân tộc Việt Nam thì quá xui bị cộng sản độc tài đang ngự trị trên quê hương sau khi đất nước thống nhất. Kết quả là VN đứng gần hạng nhất vi phạm nhân quyền và tham nhũng và đứng gần hạng bét tự do báo chí. 

TQ đang rất lo sợ chiến tranh Triều Tiên bộc phát và tìm mọi cách để ngăn cản tên đàn em đừng gây sự mà vạ lây đến đàn anh. Đảng CSVN cũng mong muốn là chiến tranh Triều Tiên đừng xảy ra. Khi TQ bị lôi kéo vào chiến tranh Triều Tiên thì tên tay sai CSVN mất chỗ dựa và dân tộc VN sẽ đứng lên đòi nhân quyền và tự do dân chủ và chắc chắn đảng CSVN sẽ bị lật đổ. Khi TQ vì sợ vạ lây khoanh tay đứng nhìn tên đàn em Bắc Hàn bị Mỹ và Nam Hàn đánh bại thì đó cũng là dấu hiệu tốt cho toàn dân VN khởi nghĩa. Khi Bắc Hàn bị tiêu diệt thì Mỹ và Nam Hàn tiếp cận biên giới TQ và áp lực bao vây TQ rất khủng khiếp.

“Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng (năm con rắn 2014 hết sa tăng)
Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng (năm con ngựa 2014 quỷ đỏ CS chết)
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời” (“Cha con dòng họ thầy tăng” có lẽ cụ Trạng ám chỉ sư quốc doanh đi tu vẫn lấy vợ.)

“Nói đến độ thầy tăng mở nước (có lẽ cụ Trạng muốn nói các tôn giáo nổi lên)
Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu (đám quỷ cộng sản ăn nói, hành động xuôi ngược)
Bấy lâu những cậy phép màu
Bây giờ phép ấy để lâu không hào.” (dân không còn sợ CS)

“Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình vào ở nội Ngô Tề (có phải cụ Trạng Trình ám chỉ Việt kiều khắp nơi?)
Có thầy Nhân Thập đi về (Việt kiều trở về giúp xây dựng đất nước sau khi CS từ trần)
Tả hữu phù trì cây cỏ thành binh.”

Có phải sấm ký của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đang ứng nghiệm?

 

__._,_.___

 

Chuyện thật ở thủ đô Hà Nội

Tôi đi Hà Nội một tháng, gặp một số chuyện “độc” chỉ có ở thủ đô, mang về làm quà kể cho bạn nghe. Kể từng chuyện nhé.
Niềm tin & quốc tịch
Chồng chị là đảng viên. Chị cũng đảng viên, cả hai đều là đảng viên thứ gộc. Họ làm ăn rất tài và phất rất nhanh. Hết mua bán đất đến mua bán nhà, rồi mua bán chung cư, rồi đến chơi chứng khoán. Đầu tư quả nào trúng ngay quả đó.
Một hôm, chị nói với tôi rằng, “Chị vừa mua thêm căn hộ ở Singapore, em ạ.” Tôi rất ngạc nhiên khi nghe chị nói như thế. Trước đây, tôi có nghe kể rằng chị đã mua một ngôi nhà ở Australia và một ngôi nhà nữa ở Mỹ, bang Cali hẳn hoi. Nghĩa là cho con đi du học ở xứ nào thì chị mua nhà cho chúng ở xứ đó. Trước để khỏi phải tốn tiền thuê nhà, khi học xong thì cũng vừa trả xong tiền nợ, và giá trị căn nhà cũng tăng đủ để sinh lời. Tuy vậy, tôi hỏi thêm cho rõ, “Nhưng chị đã có nhà ở Úc và ở Mỹ rồi thì mua thêm ở Sing làm gì?”
Chị bình thản chia sẻ thật với tôi, “Chị đầu tư mà em. Vả lại vốn vay tại Singapore cực rẻ. Chị sẽ chuyển toàn bộ tài sản ra nước ngoài luôn. Cái quy chế có chừng nửa triệu đô thì được nhập tịch ở Canada rất thoáng, nhà chị đang lo. Như thế sẽ an toàn hơn. Ở mình, giờ nhìn đâu cũng thấy bóng dáng thần chết. Từ thực phẩm cho đến xe cộ, sơ sảy chút là không toàn mạng. Thậm chí, tháng nào bọn chị cũng bay qua Singapore mua thực phẩm rồi đem về Hà Nội sử dụng dần dần. Mấy cái siêu thị ở đây cũng không thể tin được. Làm sao mà biết chắc rằng chúng không bán hàng đểu cho mình. Ăn bậy vào nếu không ngộ độc thì cũng ung thư.”
Chị lại khuyên, “Mấy đứa nhỏ ở nhà ráng lo cho chúng đi du học hết đi. Ngày xưa thì hết tị nạn chính trị đến tị nạn kinh tế, còn bây giờ thì phải kể thêm tị nạn giáo dục nữa. Mà thật ra thì thời buổi này, ở cái đất nước này, mọi chuyện đều phải tính hết, không thể ù lì chờ nước tới chân mới nhảy. Em cố gắng mà chạy cho được thêm cái quốc tịch. Dù sao có hai cái quốc tịch vẫn hơn. Lỡ có chuyện gì... thì... bay hơn tiếng đã đến Singapore.”
Trời ơi, cỡ làng nhàng dân ngu khu đen như tôi thì làm sao mà… chạy thêm cái quốc tịch? Quốc tịch chứ có phải là mớ rau ế mua ở chợ chiều đâu mà dễ chạy vậy ta? Làm sao mà sống tiếp đây? Chẳng lẽ, cái xứ này đến hồi vận mạt rồi sao?
Tôi tình thật hỏi tiếp luôn, “Vậy anh chị nghĩ sao về cái vụ đảng viên của mình chứ? Đảng viên mà còn tính như thế thì dân đen như em phải làm sao? Niềm tin đặt vào chỗ nào đây?” Chị đáp, “Chị có còn sinh hoạt đảng gì nữa đâu, có cái thẻ thì giữ cho có để khỏi bị chúng hà hiếp. Ngó tới thêm nhục! Còn ông ấy thì phải giữ vì còn phải làm việc trong bộ. Rồi cũng tới lúc phải vất thôi. Chị còn nghe thằng bé nhà chị ở Mỹ nó nói là, ở nước ngoài các chính phủ họ căng với đảng viên lắm. Thậm chí khi thi quốc tịch ở Mỹ nó còn hỏi người ta khai ra có phải là đảng viên Phát-xít và Cộng sản hay không, nếu có là phăng-teo luôn.”
Tôi thầm nghĩ, trời ơi, làm sao mà sống tiếp đây? Các đại gia, các nhà tư sản đỏ mới có điều kiện để trở thành người tiêu dùng thông thái, nhà đầu tư thông minh như thế. Ai ai cũng thủ thế và chuẩn bị bài chuồn để bảo toàn mạng sống và của cải. Thường thường bậc trung như mình, nghĩ thì cũng nghĩ tới đấy nhưng chẳng thể làm được. Thôi thì có chết thì chết chung với nhau, chết chùm cả nước, chứ có riêng gì mình. Lỡ có chuyện gì thì làm ơn… lỡ sớm sớm giùm một chút.
Cái gì cũng “đéo”
Ngày nay hầu như ở Hà Nội người ta không còn, hay rất hiếm, nói từ “không”, mà thay bằng từ “đéo”. Ra phố thì cái gì cũng “đéo”. Từ già cho tới trẻ, nam hay nữ gì cũng vậy, cũng nói “đéo” thay cho “không”. Thậm chí, có khi bạn còn nghe “đéo” trong các môi trường lẽ ra rất lành mạnh như nhà trường. Cái gì cũng “đéo”. Nghĩa là, “đéo có cái gì mà không đéo”. Giả dụ, ở sạp báo, bạn hỏi, “Ông ơi, có báo Nhân Dân không?” / “Đéo có Nhân Dân, chỉ có Hà Lội Mới thôi!”. Kinh!
Thịt heo tự nuôi, cho nó lành!
Xem ti-vi, thấy một chị tre trẻ ở Hà Nội đặt họ hàng ở quê nuôi heo để ăn dần cho nó an toàn, bảo đảm là heo nuôi với nguồn thực phẩm tự nhiên, không có chất “tạo nạc”. Ai muốn ăn thịt heo thì phải ghi tên trước 8 tháng. Nhà đài VTV tường thuật như thể chị chàng kia thông minh lắm, như muốn khuyến khích mọi người theo cái gương đấy. Mình nghĩ, không chừng chắc rồi cũng tới cái lúc dân ta quay lại như thời bao cấp, cái thời nhà nhà nuôi heo, tự cung tự cấp, ủn ỉn ụt ịt trong mọi nhà, trên mọi hành lang chung cư, cho nó lành.
“Sĩ”
Ra đây một thời gian ngắn tôi nhận ra được cái tính “sĩ” của dân thủ đô. Tôi gặp một số người cho rằng mình là người Hà Nội chính gốc, có tổ tiên hằng bao nhiêu đời làm quan của triều nhà Hồ, nhà Lê. Những người này có niềm kiêu hãnh về dòng dõi của mình, và họ khinh đám dân nhập cư từ Nghệ An, Thanh Hóa, hay các xứ khác đến sống ở Hà Nội ra mặt. Nếu không khinh ra mặt được thì họ cũng ngấm ngầm tự hào về cái khả năng không nói ngọng nghịu, lẫn lộn hai âm “nờ” và “lờ”, và tự hào về cái giọng thanh tao (nhưng tôi nghe thì có khi chua lét) của họ, chứ không nặng chình chịch và quê mùa của người nhập cư. Họ cho rằng như thế mình mới là “sĩ”, là “kẻ sĩ”; nghĩa là, có thể nghèo, nhưng vẫn sang trọng, một cách nào đó, trong nhân cách thừa kế được từ dòng dõi nhiều đời trước
HÀ LỘI NGÀY NAY
Đám đảng viên không tin đảng nữa
Đảng tầm phào, tròng tréo, gian ngoan
Nói này, làm khác, hai đàng
Biết là sai đấy, phải đành vâng nghe!
Không vâng nghe thì không có gạo
Vợ con đang thiếu thốn, lao đao
Công lao, sự nghiệp đổ nhào
Nếu mà liều mạng phạm vào đảng quy!
Cả nước bẩn, một mình trong sạch?
Hãy coi trên sao họ sang giầu
Xe con, chứng khoán, nhà lầu
Rõ là danh giá một mầu tham ô!
Gửi con học khắp nơi thế giới
Nhưng Hoa Kỳ, Anh, Pháp... là hơn
Dù chúng chỉ học lơn tơn
Trường tư đâu thiếu, lờn quờn cũng xong!
Có sẵn tiền nên mua nhà đất
Singapore, New York, Cali...
Dăm năm tiền lãi cũng chì
Lỡ khi có biến ta thì dông ngay!
Lúc đó đ. sợ thằng nào cả
Vào quốc tịch vì vốn kinh doanh
Tôi đây đ. phải lưu manh
Vì thời vì thế phải đành thế thôi!
Vài ba tháng đi Sing một chuyến
Thực phẩm mua để giữ cái thân
Bọn Chệt độc ác vô cùng
Trứng đỉa đem ém ấu trùng sinh ra!
Xưa nay ta là thằng đ. sợ
Vậy mà nay phải sợ Chệt Tàu
Bọn người hung ác gì đâu
Phen này đất nước ra mầu thê lương!
Cái không khí "lay" thực u ám
"No ninh tinh" những chuyện thảm thê
Chuyện thằng bán "lước lão lề"
Chuyện phe Tưởng Thú sắp về phục viên!
Bút Xuân Trần Công Tử
Diễn bằng văn vần, lấy ý từ bài "Chuyện thật ở thủ đô HàNội" của Cao thị Uyên.
(Lo linh tinh, phục viên: về vườn, về hưu.)



 

From:
Date: February 16, 2013
Subject: The following are 40 ways that China is beating America Economically.



#1 As I mentioned above, when you total up all imports and exports of goods, China is now the number one trading nation on the entire planet.
#2 During 2012, we sold about 110 billion dollars worth of stuff to the Chinese, but they sold about 425 billion dollars worth of stuff to us. That was the largest trade deficit that one nation has had with another nation in the history of the world.
#3 Overall, the U.S. has run a trade deficit with China over the past decade that comes to more than 2.3 trillion dollars.
#4 China now has the largest new car market in the entire world.
#5 China has more foreign currency reserves than anyone else on the planet.
#6 China is the number one gold producer in the world.
#7 China is also the number one gold importer in the world.
#8 The uniforms for the U.S. Olympic team were made in China.
#9 85 percent of all artificial Christmas trees are made in China.
#10 The new World Trade Center tower is going to include glass that has been imported from China.
#11 The new Martin Luther King memorial on the National Mall was made in China.
#12 One of the reasons it is so hard to export stuff to China is because of their tariffs. According to the New York Times, a Jeep Grand Cherokee that costs $27,490 in the United States costs about $85,000 in China thanks to all the tariffs.
#13 The Chinese economy has grown 7 times faster than the U.S. economy has over the past decade.
#14 The United States has lost a staggering 32 percent of its manufacturing jobs since the year 2000.
#15 The United States has lost an average of 50,000 manufacturing jobs per month since China joined the World Trade Organization in 2001.
#16 Overall, the United States has lost a total of more than 56,000manufacturing facilities since 2001.
#17 According to the Economic Policy Institute, America is losing half a million jobs to China every single year.
#18 China now produces more than twice as many automobiles as the United States does.
#19 Since the auto industry bailout, approximately 70 percent of all GM vehicles have been built outside the United States.
#20 After being bailed out by U.S. taxpayers, General Motors is currently involved in 11 joint ventures with companies owned by the Chinese government. The price for entering into many of these “joint ventures” was a transfer of “state of the art technology” from General Motors to the communist Chinese.
#21 Back in 1998, the United States had 25 percent of the world’s high-tech export market and China had just 10 percent. Ten years later, the United States had less than 15 percent and China’s share had soared to 20 percent.
#22 The United States has lost more than a quarter of all of its high-tech manufacturing jobs over the past ten years.
#23 China’s number one export to the U.S. is computer equipment, but the number one U.S. export to China is “scrap and trash”.
#24 The U.S. trade deficit with China is now more than 30 times larger than it was back in 1990.
#25 China now consumes more energy than the United States does.
#26 China is now the leading manufacturer of goods in the entire world.
#27 China uses more cement than the rest of the world combined.
#28 China is now the number one producer of wind and solar power on the entire globe.
#29 There are more pigs in China than in the next 43 pork producing nationscombined.
#30 Today, China produces nearly twice as much beer as the United States does.
#31 Right now, China is producing more than three times as much coal as the United States does.
#33 China now produces 11 times as much steel as the United States does.
#34 China produces more than 90 percent of the global supply of rare earth elements.
#35 China is now the number one supplier of components that are critical to the operation of U.S. defense systems.
#36 A recent investigation by the U.S. Senate Committee on Armed Services found more than one million counterfeit Chinese parts in the Department of Defense supply chain.
#37 15 years ago, China was 14th in the world in published scientific research articles. But now, China is expected to pass the United States and become number one very shortly.
#38 China now awards more doctoral degrees in engineering each year than the United States does.
#39 The average household debt load in the United States is 136% of average household income. In China, the average household debt load is 17% of average household income.
#40 The Chinese have begun to buy up huge amounts of U.S. real estate. In fact, Chinese citizens purchased one out of every ten homes that were sold in the state of California in 2011.
Are you starting to get the picture?
And in the years ahead China is projected to become even more powerful economically.
In fact, the IMF is projecting that China will surpass the United States and become the largest economy on the planet in 2016.
That is just three years from now.
Nobel economist Robert W. Fogel of the University of Chicago is projecting that if current trends continue, the Chinese economy will be three times larger than the U.S. economy by the year 2040.
Could you imagine a world where China has vastly more economic power than the U.S. does and dictates the direction of the global economy?
That is where we are heading.
The dragon is rising and the torch is being passed.
WAKE UP AMERICA! Stop buying Chinese goods.


TÌM HIỂU VĂN HOÁ NGƯỜI NHẬT
tka23 post

Ông Shinzo Abe vừa thăm chính thức tới Việt Nam và các nước châu Á, lần công du nước ngoài đầu tiên kể từ khi nhậm chức Thủ tướng Nhật.

Cúi nhưng không thấp

Người Nhật có thói quen gập hơn nửa người cúi chào khách. Từ ông chủ tịch, tổng giám đốc của tập đoàn thực phẩm lớn như Acecook (Oaska) cho đến cô bé bán kem ở Lake Hill Farm (Jozankei) đều nhiệt thành ra tận xe, vẫy chào tạm biệt khách cho đến xe đi khuất hẳn.
Cái nghiêng mình quen thuộc khi người Nhật chào khách


Ở đất nước mặt trời mọc, hình ảnh nghiêng gập người cúi chào thể hiện cả một nền văn hóa Nhật Bản: Cúi nhưng không hạ mình . Sự nhún nhường chỉ làm tăng thêm sự nể trọng của người đối diện.
Trên các chuyến bay của hãng hàng không Japan Airlines, nụ cười luôn nở trên môi các tiếp viên. . Họ sẵn sàng ngồi, chính xác là "quỳ xuống", giúp khách sửa tư thế của đôi chân tê mỏi.
Họ niềm nở, vui vẻ tiếp nhận yêu cầu của hành khách khó tính nhất. Không phải phẩm chất máy bay khiến hành khách hài lòng mà chính cách phục vụ của tiếp viên khiến mọi người nghĩ tốt về người Nhật. Chỉ vài phút khởi hành trễ, toàn bộ nhân viên phục vụ mặt đất và tiếp viên, phi công dàn thành hàng ngang, cúi rạp người xin lỗi khách.
Họ thật sự đã thành công khi để lại ấn tượng sâu sắc về một nước Nhật vô cùng hiếu khách và nghệ thuật giao tiếp của họ tuyệt vời.

Trung thực
Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các tài xế sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.
Sự trung thực của người Nhật, in đậm nét ở những
"mini shop không người bán” tại Osaka.
Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản.
Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka... cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ/túi xách. Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ "ăn cắp vặt" gần như đã biến mất trong từ điển.
Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 - 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.
“No noise” - không ồn
Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả hight ways đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn 1 hòn đảo nhân tạo để làm phi trường rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.
Phi trường quốc tế Kansai được xây dựng trên hòn đảo nhân tạo, cách xa khu dân cư
Tại các cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa quảng cáo, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng loa tay, quảng cáo với từng khách.
Nhân bản
Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn "để phần" 5-10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.
Bình đẳng
Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng.
Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.

Bình đẳng là điều đầu tiên các em học được ở trường
Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, công chức cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung ý chí, chung tinh thần lao động.
Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên nào . Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.
Ở Nhật, nội trợ là một nghề. Hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các chế độ y như một người đi làm. Về già, vẫn hưởng đầy đủ lương hưu.
Độc đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.
***
Ở đất nước mặt trời mọc, mọi người hiểu sâu sắc lý do khiến nước Nhật tan hoang sau chiến tranh thứ 2, bật dậy mạnh mẽ trở thành cường quốc khiến cả thế giới phải nghiêng mình.
VĂN HÓA TH Ế GIỚI



 

Lật trang sự cũ, thân chuyển đến các bạn bài viết dưới đây của tác giả Đặng Kim Thu SQTV của Đại Tướng Cao Văn Viên. Đáng buồn thay cho mẹ VN.

VTT
Date: Sat, 12 Jan 2013 19:34:13 -0800 Subject: Fw: * Tùy viên Đại Tướng Cao Văn Viên To:
Than chuyen den cac ban doc choi cho biet.Tac gia la Dang Kim Thu, cuu SVSQ/TVBDL/K19,cuu tuy vien cua Dai tuong Cao Van Vien,cuu Quan Truong Cho Gao.Sau dinh liu vao vu coi hu Long An va di tu.
THÂN PHẬN CỦA ĐẠI TÁ CAO VĂN VIÊN
TRONG CUỘC ĐẢO CHÁNH 1-11-1963.
Từ đơn vị tác chiến ( tiểu đòan 41 BĐQ), Tôi được lệnh về làm Sĩ quan Tuỳ Viên cho Đại Tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng vào cuối năm 1966. Vì tôi không có nhà ở Sài Gòn nên ông bà Đại Tướng cho tôi tạm ở trong tư dinh thời gian đầu .
Với công việc hoàn toàn mới lạ, nhiều bỡ ngỡ, cộng thêm sự gò bó ở trong dinh của Đại Tướng, mới đầu tôi hơi nản lòng, nhưng nhờ sự giúp dỡ, chỉ dẫn tận tình của người tiền nhiệm của tôi là Quách tinh Cần K20//TVBQGĐL, và sự cởi mở của ông bà Đại Tướng nên tôi cảm thấy an tâm đôi chút.
Những ngày đầu về ở trong dinh của Đại Tướng, cứ sau bữa cơm tối ông xuống phòng tùy viên chỉ rõ cách sinh hoạt trong nhà, cách tiếp nhận đìện thoại từ bên ngoài gọi vào, an ninh vòng ngoài, an ninh vòng trong, và v.v...
Ông bảo tôi: thông thường các tướng lãnh khác tôi đều tiếp họ tại văn phòng, ngoài giờ làm việc tôi không tiếp ai ở nhà riêng cả, nếu có vi tuớng tá nào muốn gẵp tôi ngoài giờ làm việc, mà không có hẹn, chú không được mở cổng, mà phải báo tôi trước để tôi quyết định có tiếp họ hay không, dặc biệt chú phải quan sát, xem vĩ tướng đó có đem theo lính hộ tống hay không, trong mọi trường hợp chú đừng cho lính hộ tống vào bên trong dinh, cổng phải luôn luôn khóa chốt
Nhưng đặc biệt có hai vị cựu tướng lãnh khi tới nhà muốn gặp tôi bất cứ lúc nào, chú cũng mở cổng mời vào phòng khách rồi báo tôi ra tiếp, không cần phải hỏi tôi trước, hai vi đó là trung tướng Trần văn Đôn và trung tướng Tôn thất Đính, mà chú có bao giờ thấy hai vị tướng đó chưa? Tôi trả lời “da chỉ biết qua hình ảnh trên báo chí”. Ông bảo cũng tót, vậy thi ráng nhận diện nếu hai vị đó tới. Xong ông nhìn tôi thấy có vẻ như tôi muốn tìm hiểu lý do mà hai ông cựu tướng này được đại tướng ưu ái như vậy, ông nói thêm chú muốn biết tại sao tôi đối xử với hai ông đó đặc biệt như thế chứ gì, được rồi để mai tôi kể cho chú nghe vì mai là chúa nhật có nhiều giờ rảnh hơn”
Hôm sau ăn cơm trưa xong ông xuống phòng tôi và bắt đầu kể:
“Ngày 1 tháng 11 năm 1963 là ngày Lễ Các Thánh, quân nhân, công chức nghỉ buổi sáng khoảng 10 giờ sáng tôi được điện thoại của chánh văn phòng thiếu tướng Khiêm mơi vào Bộ Tổng Tham Mưu họp ở phòng họp số 1, và phải có mặt trước 1 giờ, tôi tới lúc 1 giờ kém 10 phút, thấy có đông các đơn vị trưởng sẵn đó rồi, nhìn mặt toàn là các sĩ quan thân tín của ông Diệm, đúng 1 giờ 2 qưân cảnh ở ngoài đóng cửa phòng họp và khoá lại, mọi người trong phòng ngơ ngác nhìn nhau, đại tá Lê quang Tung nói lớn: “họp hành khỉ mẹ gì, ai chủ toạ phiên họp sao chưa tới mà họ khoá cửa nhốt mình rồi, chuyện gì đây”, vài phút sau đó có tiếng mở cửa, đại úy Nhung cận vệ của trung tướng Dương văn Minh đứng ngoài cửa nới với vào: “mời đại tá Lê quang Tung Lưc Lượng Đặc Biệtt và đại tá Cao văn Viên Nhẩy Dù lên lầu gặp trung tướng Dương văn Minh, vì đại tá Tung ngồi gần cửa nên bước ra trước, tôi ở trong xa cửa hơn nên đi ra sau, khi tôi ra khỏi phòng họp thì nhìn thấy đại tá Tung đã bị đại úy Nhung còng tay dẫn xuống xe, còn tôi cũng bị 1 sĩ quan khác còng nhưng mới vừa bị còng 1 tay thì tình cờ thiếu tướng Tôn thất Đính trên lầu đi xuống chợt thấy vậy, ông bảo tháo còng tôi ra, rồi sĩ quan đócùng tướng ĐÍnh dẫn tôi lên lầu gặp trung tướng Minh .
Tướng Minh nói: Hôm nay “moi” và một số các tướng lãnh đảo chánh ông Diệm “toi” nghĩ sao? Tôi trả lời, chuyện quan trọng như vậy mà tới giờ này trung tướng mới cho tôi biết thì tôi đâu có quyết định được gì. Lúc đó trung uý Trương ( hay Trần) Tự Lập sĩ quan tùy viên của trung tướng Minh lăm le khẩu súng carbine chiã vào lưng tôi như sẵn sàng bắn tôi. anh ta hỏi tôi “ Đại tá có theo Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không?” Tôi đáp”tinh thần của quân nhân thuộc binh chủng nhẩy dù không trả lời trước áp lực” thiếu tướng Đính thấy vậy bảo tên trung úy Lập đừng hỗn với cấp trên, rồi tướng Đính dẫn tôi về lại phòng sô 1 đóng cửa lại.
Vài vị sĩ quan đang bị nhốt chung trong phòng tới hỏi tôi chuyện gì vậy? Tôi nói họ đảo chánh Tổng Thống Ngô đình Diệm. Có người hỏi: còn đại tá Tung đâu? tôi nói bị còng dẫn đi chỗ khác rồi”.
Khoảng 15 phút sau tôi lại bị dẫn lên gặp Trung tướng Minh lần nữa, lần nàyTrung tướng Minh nói với tôi:”có 1 tiểu đoàn nhẩy dù theo “Chiến Đoàn Vạn Kiếp” của trung tá Vĩnh Lộc từ Bà Rịa về tới Sài Gòn, nhưng không chịu tấn công vào Dinh Gia Long, đòi phải được liên lạc trực tiếp với “toi”, vậy nếu “toi” chịu làm 2 việc như sau: Thứ nhất tuyên bố theo Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, thứ hai ra lệnh cho tiểu đoàn nhẩy dù ở Bà Rịa về tấn công vào Dinh Gia Long, khi thành công “moi” gắn lon thiếu tướng cho “toi” liền. Tôi trả lời rằng chuyện của trung tướng làm, tôi không chống đối, nhưng bảo tôi phản lai “thầy” tôi thì tôi không làm, trung tướng thông cảm cho tôi (lời người viết: xin nói rõ thêm, trước khi chỉ huy lực lượng nhẩy dù, đại tá Viên là chánh Võ Phòng rồi Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ Phủ Tổng Thống);
“Tôi được dẫn trả lại phòng họp số 1, các vị sĩ quan trong phòng lại hỏi, tôi trả lời chưa hết thì chánh văn phòng của thiếu tướng Khiêm xuống dẫn tôi lên văn phòng giữ riêng tôi ở đó.
Sau khi đảo chánh thành công tôi được cho về nhà, rồi hằng ngày tôi phải lên Bộ Tổng Tham Mưu chờ lệnh độ 5,6 ngày sau trung tướng Khiêm “lên trung tướng ngày 2 tháng 11 năm 1963” tự ý quyết định cho tôi trở về chỉ huy Lữ đoàn nhẩy dù như cũ, còn các vị sĩ quan bị nhốt chung với tôi đa số bị giải ngũ hoặc bị hạ tầng công tác.
Rồi sau đó không lâu tôi được trung tướng Đôn cho biết: sau khi tôi từ chối lời yêu cầu cuả trung tướng Minh thì Trung tướng Minh bàn với trung tướng Đôn định đưa tôi theo số phận của đại tá Lê quang Tung, nhưng trung tướng Đôn không đồng ý và nói rằng trước khi tiên hành cuộc “cách mạng” :anh” (ông Minh) có hứa với chúng tôi hạn chế tối đa vìệc gây đổ máu các sĩ quan cấp tá không ủng hộ chúng ta, anh đã cho giết đại tá Hồ tấn Quyền, giết đại tá Lê quang Tung, bây giờ anh muốn giết luôn đại tá Viên nũa sao? Hơn nữa dù “lui” không hợp tác với mình nhưng “lui” đâu có chống mình mà giết “lui”.
Tôi nghĩ dường như tướng Khiêm cũng biết ý định đó của tướng Minh nên mới ra lệnh đem tôi lên văn phòng của ông giao cho chánh văn phòng là đại úy Pham bá Hoa giữ riêng tôi ơ đó, rồi ông Khiêm bảo:”Ai muốn kêu đại tá Viên đi đâu phải có lệnh của tôi mới cho đi”
Đấy là 3 người ơn cứu tử tôi đó .
Vai trò của Đại tá Cao văn Viên trong cuộc chỉnh lý ngày 30-1 -1964.
Một lần tôi theo Đại Tướng Viên ra Đà Nẵng thăm các đơn vị thuộc Quân Đoàn I, Tối lại, ngủ ở Tòa Thị Chính Đà Nẵng, lúc đó trung tá Lê chí Cường gốc nhẩy dù làm Thị Trưởng.
Đầu hôm thời tiết còn nóng, thầy trò tôi chưa ngủ được nên Đại Tưóng kể chuyện Đảo Chánh, chỉnh lý cho tôi nghe, giờ đây thì chuyện dù đã xa xưa, nhưng thiết tưởng còn nhiều người chưa biết rõ, hoặc biết không chính xác, không đầy đủ, nên tôi mạo muội thuật lại những gì Đại Tướng Viên kể cho tôi nghe với ước mong giúp quí vị độc giả đánh giá được 1 phần sự thực của 1 giai đoạn của Đất Nước.
Nguyên nhân đưa đến cuộc chỉnh lý 30-1-1964
Đại Tướng Viên kể rằng :
“ Trong nội bộ các tướng lãnh: sau ngày Đảo Chánh 1-11-1963 thành công, trong hàng tướng lãnh trụ cột của cuộc đảo chánh có những bất đồng ý kiến về việc thành lập chính phủ mới, về việc sắp xếp nhân sự và quan trọng hơn là sự tranh công tranh quyền giữ các tướng với nhau, cho nên dân tới sự chia rẽ.
Ngoài ra trung tướng Minh ỷ quyền là chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng nên tỏ ra độc đoán trong mọi quyết định.
“ Chẳng hạn như ông Minh muốn đưa ông Nguyễn ngọc Thơ nguyên Phó Tổng Thống của ông Ngô Đình Diệm ra làm thủ tướng, nhìều tướng lãnh không đồng ý, vì cho rằng nguyên Phó Tổng Thống của chính phủ vừa bị lật đổ ra làm thủ tướng của chính phủ mới thì thật là vô lý, nhưng ông Minh cứ làm theo ý ông.
“Về phía Tòa Đại Sứ Mỹ thì ông Đăi Sứ đề nghị với ông Minh nên cử ông Trần quốc Bửu Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công ra lập chính phủ với lý do ông Bửu có nhiều uy tín trong giới bình dân
và hiện trong tay ông Bửu có hơn 20 ngàn doàn viên của Tổng Liên Đoàn Lao dộng là lực lượng hùng hậu sẽ hỗ trợ cho chính phủ, ông Dương văn Minh chẳng những không nghe mà còn ra lệnh cho thìếu tướng Đỗ Mậu bắt giam ông Trần quốc Bửu với lý do rất mơ hồ.
Thêm nữa, ông Minh lại gọi 2 người đã rời khỏi quân đội hồi năm 1955 đang lưu vong bên Pháp( vì chống ông Ngô đình Diệm) trở về hợp tác, đó là thiếu tướng Nguyễn văn Vỹ và đại tá Trần đình Lan(phòng2) trong quân đội Liên Hiệp Pháp; đìều này có vài tướng trẻ mới được thăng cấp như thếu tưóng Nguyễn hữu Có, Đỗ Mậu, thiếu tương Dương ngọc Lắm, trung tướng Trần thiện Khiêm đều không đồng ý, bởi các vị này cho rằng ông Nguyễn v Vỹ và ông Lan đã lỗi thời và đã rời khỏi quân đội lâu rồi, không còn thích hợp với quân đội hiện giờ nữa, các ông Khiêm, Có, Lắm cho ràng, hiện nay trong quân đội có nhiều cấp tá trẻ có nhiều năng lực và được đào tạo chánh quy, cứ mạnh dạn giao việc cho họ, chứ cần gì phải gọi 2 người đó về hợp tác.
Ông Dương văn Minh chẳng thèm nghe mà vẫn cứ hành xử theo ý riêng mình dựa trên tình cảm cá nhân.
“Phần tôi (đại tá Cao văn Viên) thì mỗi ngày trình diện ở Bộ Tổng Tham Mưu, nghe nói ông Minh định cho tôi giải ngũ, nhưng nhờ trung tướng Khiêm tự ý cho tôi trở về nhẩy dù ngày 6-11-1963 mà không hội ý với ông Minh, vì việc này nằm trong thảm quyền của ông Khiêm.
Về sau mới biết, sở dĩ ông Khiêm hành động như vậy vì ngày 5-11-1963, ông Minh nói với ông Khiêm rằng đại tá Nguyễn chánh Thi ở Campuchia sắp về, ông Minh sẽ cho ông Thi chỉ huy lại Lực Lượng Nhẩy Dù, diều này chính ông Khiêm không muốn, nên hành động trước một bước, vì nếu để ông Nguyễn chánh Thi chỉ huy nhẩy dù thì khi ông Khiêm muốn mưu đồ gì cũng không thể xử dụng lực lượng nhẩy dù được vì ông Khiêm với ông Thi không thân nhau, vả lại cũng còn ngờ vực không biết ông Thi còn ôm mối hận ngàỳ 11-11-1960 cách 3 năm trước hay không.
Ngày 8-11-1963 đại tá Nguyễn chánh Thi từ Nam Vang đi đường xe về tới Gò Dầu Hạ, được ông Khiêm cho trực thăng đi đón về Tổng Tham Mưu, sau đó ông Khiêm cử ông Thi làm chủ tịch Ủy Ban Điều Tra tài sản và tội ác của ông Ngô đình Cẩn, thế là ông Thi trở ra miền Trung làm việc.
Từ những việc như vậy đưa đến những xích mích giữa ông Khiêm và ông Minh, rồi một ngày vào hạ tuần thang 12-1963, ông Minh cử ông Khiêm đi công du qua Nhật và Đài Loan, ở nhà ông Minh giao cho Trung tướng Lê văn Kim thay thế trung tướng Khiêm giữ chức vụ Tham Mưư Trưởng Liên Quân( không làm lễ bàn giao), đến khi ông Khiêm trở về thì ông Minh chỉ định ông Khiêm làm tư Lệnh Quân Đoàn III chia bớt nhiệm vụ của trung tướng Đính đang kiêm nhiệm Bô An Ninh.Thời gian này Quân Đoàn ÌÌÌ còn nằm trong trại Lê văn Duyệt Sài Gòn chưa dời lên Biên Hoà). Vậy là ông Khiêm bị hạ tầng công tác nên ông Khiêm trở nên bất mãn.
Nguyên nhân bên ngoài
Ông Dương văn Minh gây cho Đại Sứ Mỹ cú “sốc” đầu tiên là không nghe theo đề nghị của Đại Sứ Mỹ đề cử ông Trần quốc Bửu làm thủ tướng mà ông Bửu còn bị bắt giam với tội danh mơ hồ.
Sau khi đảo chánh thành công, ông Minh thường liên lạc với đại sứ Pháp ờ Sài Gòn, hơn là đại sứ Mỹ, và có vài lần ông Minh mời Đại Sứ Pháp đến dinh “Hoa lan” của ông Minh dùng cơm tối, có sự hiện diện của ông Đôn, ông Kim, ông Xuân ...mà không có sự hìện diện của viên chức Mỹ nào cả. Việc này không qua khỏi cặp mắt “cú vọ” của cơ quan CIA ở Sài Gòn khiến họ đâm ra hoài nghi. Ngoài ra mỗi khi có việc phải giao tiếp với viên chức của toà đại sứ Mỹ và Bộ Tư Lệnh M.A.C.V, các ông Minh, Đôn, Xuân, Kim ...chỉ nói toàn tiếng Pháp mà không nói 1 câu tiếng Anh nào, điều này cũng gây khó chịu và tự ái đối với các viên chức Mỹ không ít, và họ nghĩ là các tướng có khuynh hướng thân Pháp.
Tổng hợp những chuyện kể trên đưa đến cuộc chỉnh lý ngày 30-1-1964.
Chỉnh lý ngày 30-1-1964
Chiều ngày 29-1-1964 tướng Khiêm mời tướng Khánh ở Đà Nẵng về Sài Gòn, nói có chuyện cần bàn với tướng Khánh, rồi tướng Khiêm gặp tôi (Đại tá Viên) chỉ thị cho tôi chuẩn bị lực lượng nhẩy dù đi bắt 5 vị tướng: Đôn, Kim, Xuân, Đính,Vỹ và người thứ 6 là thìếu tá Nhung(người đã giết ông Ngô đình Diệm và ông Ngô đình Nhu), thiếu tá Nhung đang ở trong nhà trung tướng Dương văn Minh.
Tôi đề nghị với trung tướng Khiêm nên giao người khác đi bắt ông Đôn và ông Đính, chứ tôi rất khó xử nếu phải đi bắt 2 người mà cách đâỷ 3 tháng đã là ân nhân cứu tử tôi. Trung tướng Khiêm thấy đề nghị của tôi hợp lý nên giao cho tiểu đoan 2 TQLC lúc đó do thiếu tá Cổ tấn tinh Châu làm TĐT đi bắt tướng Đôn và tướng Đính.
Lệnh tổng quát của trung tướng Khiêm cho 2 tôi và thiếu tá Châu là không được liên lạc hoặc tiếp xúc với bắt cứ ai cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ.
Thời gian này tất cả mọi đơn vị muốn vào lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô phải có lệnh của Tư Lệnh QĐ111, và riêng TĐ2/TQLC vì đang đóng quân bên ngoài lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô nên tr/t Khiêm ký sự vụ lệnh giao cho 1 đại úy thuộc QĐIII đem đến cho TĐT/TĐ2/TQLC để di chuyển tiểu đoàn vào BKTĐ mà không bị ngăn cản.
Tr/t Khiêm ra lệnh cho thiếu tá Phạm bá Hoa chuẩn bị 1 xe dodge truyền tin để theo dõi việc đi bắt5 ông tướng mà chính t/t Hoa phải trực máy truyền tin.
Giờ xuất phát đi bắt là 23 giờ và các đường giây điện thoại ở nhà 5 ông tướng đã bị ông Khiêm cho lệnh cắt đứt hết rồi, không liên lạc được với ai cả.
Đúng 23 giờ tôi được lẹnh xuất phát để bắt 3 ông tướng : Mai hữu Xuân, Lê văn Kim và Nguyễn văn Vỹ, rồi sau cùng đến bắt th/t Nguyễn văn Nhung tại nhà của ông Dương văn Minh.
Tiểu đoàn 2/TQLC được giao nhiệm vụ đi bắt 2 ông tướng Tôn thất Đính và Trần văn Đôn , cả 2 đơn vị xuất phá cùng một lúc.
Đến khoảng 2 giờ sáng 5 vị tướng : Đôn, Kim, Xuân, Đính, Vỹ được đưa vô Bộ Tổng Tham Mưu, riêng th/t Nhung thì tôi đưa về trại Hoàng Hoa Thám bản doanh của lữ đoàn nhẩy dù.
Trung tướng Nguyễn Khánh ở Đà Nẵng được trung tướng Khiêm mời về Sài Gòn từ chiều, đang ở nhà chờ, đến bấy giờ mới được tướng Khiêm mời vào BTTM cho biết:”Nhiệm vụ của tôi(tướng Khiêm) tới đây đã xong, phần còn lại tôi giao cho anh(tướng Khánh).chuẩn bị sáng mai anh họp báo.
Tướng Khánh nói:”công của anh thì anh làm luôn đi”. Tướng Khiêm vãn khước từ và gợi ý với tướng Khánh, khi họp báo cứ nói các ông đó cớ ý định “trung lập thân Pháp” nên mình phải ra tay ngăn chặn.
Trung tướng Khánh liền gọi ra Quân Đoàn I Đà Nẵng dặn dò chuyện gì đó, rồi dại tá Thi nghe được lièn bay vô Sài Gòn kịp sáng sớm vào TTM ngồi họp báo chung với tướng Khánh, điều này khiến báo chí và dân chúng tưởng rằng ông Khánh và ông Thi làm cuộc chỉnh lý, chứ không biết rằng trong đêm 1 mình tướng Khiêm đích thân chỉ huy 2 vị sĩ quan cấp tá là tôi và thiếu tá Cổ tấn tinh Châu đi bắt 5 ông tướng và thiếu tá Nhung, xong rồi mới giao cho ông Khánh.
Tóm lại ông Khiêm dọn sẵn “mâm cỗ” cho ông Khánh hưởng.
Hôm saụ 5 vị tướng bị chỉnh lý được phi cơ chở ra Đà Nẵng rồi vài ngày sau lại chở vô quản thúc ở Đà Lạt. Ông Khánh lên làm thủ Tướng từ lúc đó.
Số phận của th/t Nhung
Đại Tướng viên kể lại rằng:
“Khi tới nhà ông Minh để bắt t/t Nhung thì tôi gặp ngay tướng Minh, ông hỏi lệnh của ai biểu bắt,
Tôi(đại tá Viên) trả lời: lệnh của tr/t Trần thiện Khiêm.
Ông Minh hỏi : ông Khiêm hiện giờ ở đâu?
Tôi trả lời: thưa trung tướng tôi không biết.
Ông Minh lại hỏi tiếp:vậy đại tá nhận lệnh của ông Khiêm từ lúc nào? lý do nào bắt cận vệ của tôi.
“Tôi đáp: xin tr/t hỏi ngay tr/t Khiêm, còn tôi chỉ thi hành lệnh. liền đó tướng Minh bốc điện thoại gọi ai đó, nhưng gọi không được, bèn dằn mạnh điện thoại xuống bàn, thấy vậy tôi nói :”điện thoại bị cắt giây rồi, trung tướng không gọi được ai đâu”, tôi chào tr/t Minh rồi dẫn th/t Nhung ra xe đưa về trại Hoàng Hoa Thám.
Tại đây tôi giao th/t Nhung cho sĩ quan an ninh nhẩy dù hỏi cung th/t Nhung, chủ yếu ở điểm: ai ra lệnh giết Tổng Thống Ngô đình Diệm và ông cố vấn Nhu? Sĩ quan an ninh nhẩy dù đưa giấy, viết bắt ông ta tư viết lời khai để làm chứng cớ. Sau khi lấy lời khai xong, khuya ngày hôm sau sĩ quan an ninh(cấp bậc trung úy)cho người vô phòng giam bóp cổ Nguyễn Nhung chết rồi lấy giây giầy”saut” của chính ông Nhung thắt vòng treo cổ Nguyễn Nhung lên trần nhà.
Đêm đó tôi về nhà ngủ, sáng sớm hôm sau, sĩ quan trực ở trại Hoàng Hoa Thám đìện thoại báo cáo tôi: th/t Nhung thắt cổ tự tử chết rồi, tôi bảo sĩ quan trực gọi bác sĩ Văn văn Của, lúc ấy là th/t y si trưởng ND ráng cứu chữa ông ta coi có thể sống lại được không? .
Sau đó y sĩ thiếu tá Văn văn Của điện thoại báo tôi: “Thưa đại tá
hết phương cứu chữa rồi và ông Của làm bản báo cáo, y chứng xác nhận, thiếu tá Nhung đã chết do thắt cổ tự tử”. Cuộc điện đàm này tôi có cài máy ghi âm để thủ thân về sau này.
Trong lời tự khai của th/t Nhung, ông ta nói răng ông Dương văn Minh ra lệnh cho ông ta giết ông Nhu trướckhi đoàn xe về tới Bộ TTM, ngoài ra trên đường di chuyển nếu có sự bất trắc gì xẩy ra thì chỉ nghe theo lệnh của thiếu tướng Mai hữu Xuân mà thôi, khi ông Nhung đâm ông cố vấn Nhu thì bị ông Diệm chống cự quyết liệt nên buộc lòng ông Nhung phải giết luôn ông Diệm
Ngoài ra khi khám tử thi của t/t Nhung, sĩ quan an ninh lấy ra được một mẩu giấy viết sẵn giấu trong quần, định tìm cách gửi về nhà, nhưng chưa gửi được. Nội dung như sau:”Em ơi! Bọn Diệm , Nhu sống lại rồi, chắc anh phải chết, nếu anh có mệnh hệ gì,em phải ráng nuôi các con cho khôn lớn, anh đang bị nhốt trong lữ đoàn nhẩy dù”.
Lời tự khai và cái thơ riêng gửi cho vợ của t/t Nhung được đưa cho trung tương Khánh giữ.
Nhận định riêng của người viết:
Về cái chêt của thiếu tá Nhung,tôi nghĩ rằng vị sĩ quan an ninh nhẩy dù không dám tự ý hành động, mà phải có lệnh của 1 trong 3 vị: tuớng Khánh, tướng Khiêm hoặc đại tá Viên? Nhiều lần tôi muốn hỏi đại tướng Viên nhưng lại rụt rè không giám hỏi vì sợ tướng Viên giận và cho rằng tôi tò mò.,
Theo tôi cuộc chỉnh lỷ 30-1-1964 chắc chắn phải có bàn tay “phù thuỷ” của Mỹ thúc dẩy cho tướng Khiêm thực hiện, mà nguyên nhân chánh là do trung tướng Dương văn Minh làm phật lòng người Mỹ, nhưng ông Minh không bị loại vì lúc bấy giờ dân chúng và khối phật giáo Ấn Quang vẫn còn xem ông Minh như người hùng”cách mạng” nếu loại hẳn ông Minh sợ e có xáo trộn xã hội và sợ thượng toạ Thích trí Quang sách động phật tử “xuống đường”ủng hộ ông Minh . Còn 5 ông tướng bị chỉnh lý vì thân tín với ông Minh nên bị làm vật tế thần, bị chụp lên đầu cái mũ”trung lập thân Pháp”, để chặt hết tay chân của ông Minh, biến ông Minh thành “con cua bị gẫy cang” ngồi đó nhìn ông Khánh tung hoanh
Phụ chú;
Những điều tôi thuật lại cho quý độc giả trên đây là tôi được nghe đại tướng Viên kể lại lúc tôi đang là sĩ quan tùy viên của ông,
Sau này vào tháng 8 năm 2004, tôi từ Cali qua Virginia thăm đại tướng Viên trong 1 nursing home, tình cờ có đại tướng Khiêm tới, ông Viên, ông Khiêm và tôi cùng ngồi nói chuyện chung, đây là dịp may hiếm có, tôi hỏi đại tướng Khiêm vài điều mà tôi ấp ủ từ lâu vì không biết hỏi ai cho chính xác.
Tôi hỏi: thưa đại tướng, em nghe nói ngày đảo chánh 1-11-1963 có 1 người Mỹ ở trong phòng của đại tướng ngay từ giờ phút đầu để theo dõi cuộc đảo chánh, em muốn biết lời đồn đó co đúng không?
Đại tướng Khiêm nói: lời đồn đó đúng, người Mỹ đó là trung tá Conein, ông ta ở trong 1 phòng nhỏ sát phòng làm việc của tôi sau tấm vách ngăn mà không hề bước qua phòng tôi trong thời gian tiến hành đảo chánh.
Tôi cho chú biết thêm, ông Conein này là 1 sĩ quan trưởng của 1 toán tình báo Mỹ đã từnf nhẩy dù xuống vùng Việt Minh kiểm soát ở miền Bắc, Việt Nam năm1945 để giúp Hồ chí Minh đánh Nhật, ông ta là người biết nhiều về Hồ chí Minh và mặt trận Viễt Minh.
Tôi hỏi tiếp : thưa đại tướng, em được biết, sau khi đại tướng làm cuộc chỉnh lý ngày 30-1-1964 thiếu tá Nhung đã khai, ông Minh ra lệnh cho ông ta giết ông Diệm, ông Nhu , lời khai đó chan thật không? Liệu sau lưng ông Minh có 1 thế lực nào khác thúc đẩy ông Minh làm chuyện đó không?
Đại tướng Khiêm trả lới: chú nghe kỹ tôi nói đây:”trước ngày đảo chánh (1-11-1963) tôi đưa ra 1 điều kiện tiên quyết với ông Minh, liên quan đến Tổng Thống Diệm như sau : phải bảo đam sinh mạng Tổng Thống Diệm và để T/T Diệm bình an xuất ngoại. Ong Minh và ông Kim đều đồng ý, sở dĩ có ông Kim vì mới đầu ông Kim có 1 nhóm riêng cũng âm mưu đảo chánh, về sau 2 nhóm mới kết hợp lại.
Khi biết ông Diệm , ông Nhu bị giết, lúc ấy tôi mới biết luôn đại tá Quyền, đại tá Tung và em của đại tá Tung là Lê quang Triệu cũng bị giết, còn ông này(ông Khiêm vừa nói vừa nhìn qua ôngViên) cũng bị còng tay, may mà ông Đính thấy kip chứ không thì cũng theo Hồ tấn Quyền và Lê quang Tung rồi(ông Viên và ông Khiêm cùng cười).
Ông Khiêm nói tiếp: tôi ở văn phòng của tôi trên lầu còn ông Minh, ông Kim, ông Đôn ngồi ở phòng của đại tướng Tỵ, lúc đó đại tướng Tỵ đang dưỡng bệnh, nên ông Đôn làm quyền Tổng Tham Mưu Trưởng. Họ hành động lến lút, giấu không cho tôi biết rồi họ quyết định với nhau tôi có hay biết gì đâu.
Chú nghĩ coi: ông Diệm đã gọi đìện thoại bảo cho xe đến đón ông về TTM, như vậy nghĩa là ông đã đầu hàng rồi, tại sao lại giết người đầu hàng. Ông Minh, ông Kim độc ác quá! Cho nên tôi bất mãn với 2 ông ấy từ lúc đó.
Còn chú hỏi liệu có thế lực nào khác thúc đẩy ông Minh giết ông Diệm, tôi cho chú biết thêm chi tiết này, khi ông Conein ở trong phòng nhỏ bước ra phòng tôi trung tướng Minh cho ông ta biết ông Diệm và ông Nhu chết rồi, ông Conein tỏ ra tức giận không nói với ông Minh một lời,ông quay trở vào phòng và thốt lên một câu:”Do a terrible thing”rôì một lúc sau ông Coneil bỏ ra về. Thế đó chú tự suy nghĩ”
Tôi cám ơn đại tướng Khìêm, rồi chúng tôi tiếp tục nói chuyện linh tinh khác suốt cả buổi sáng hôm đó.
Thân phận của một Quốc Gia nhược tiểu là như vậy.

Mỹ chính thức đứng về phía Nhật trong tranh chấp ở Senkaku với Trung Quốc
Ngày 05/01 vừa qua, trang mạng Chinanews của Trung Quốc có bài viết với tiêu đề: “Obama phê chuẩn dự luật liên quan đến Senkaku, thừa nhận chủ quyền của Nhật Bản”.
Obama ký dự luật liên quan đến Senkaku/Điếu Ngư
Theo thông tin từ “”White House” sáng 03/01, Tổng thống Mỹ Barak Obama đã ký duyệt “Dự luật ủy quyền quốc phòng” Mỹ năm 2013. Trong lúc trả lời phỏng vấn, ông Obama đã bóng gió nói là: “Một số điều khoản của đạo luật này có liên quan đến quyền hạn quản lý ngoại giao quốc gia của Tổng thống Mỹ", đồng thời tuyên bố đạo luật có liên quan đến Senkaku/Điếu Ngư bắt đầu chính thức có hiệu lực.
Trung  Quốc lo lắng khi Mỹ cung cấp F-16 C/D cho Đài Loan
Trong đạo luật này, lần đầu tiên Mỹ đã thêm vào nội dung: “Bảo vệ Senkaku phù hợp với điều thứ 5 trong hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ” và ghi rõ cụm từ: “Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận hành động đơn phương của một nước thứ 3”. Việc ông Obama ký duyệt đạo luật này cũng đồng nghĩa với việc Chính phủ Mỹ đã từ bỏ lập trường “không thiên lệch bên nào” trong vấn đề giải quyết tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư giữa Nhật Bản và Trung Quốc, đồng thời ủng hộ mạnh mẽ chính phủ Nhật Bản trong vấn để chủ quyền lãnh thổ ở Senkaku.
Trước đó, trong một buổi họp báo thường kỳ diễn ra ngày 27/12/2012, người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Trung Quốc Dương Vũ Quân phát biểu, dự luật này đã can thiệp thô bạo vào chủ quyền và công việc nội bộ của Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc kiên quyết phản đối. Bộ ngoại giao Trung Quốc cũng bày tỏ lập trường về vấn đề này: “Về vấn đề Senkaku, có những thế lực đang mưu toan "đục nước béo cò", số khác thì ảo tưởng "cáo mượn oai hùm", đây đều là những cố gắng vô ích mà thôi”.
633 tỷ USD ngân sách quân sự đã được phê duyệt
Việc Tổng thống Mỹ ký “Đạo luật ủy quyền quốc phòng” cũng đồng nghĩa với duyệt chi ngân sách quốc phòng Mỹ năm 2013 là 633 tỷ USD, ủy quyền cho chính phủ Mỹ sử dụng 528 tỷ USD làm ngân sách quốc phòng cơ bản để Bộ Quốc phòng Mỹ chi cho các hoạt động nghiên cứu, phát triển; mua sắm vũ khí, trang bị mới và duy trì bộ máy chiến tranh khổng lồ. Ngoài ra, đạo luật này còn bao gồm khoản kinh phí 17 tỷ USD trao cho Bộ Năng lượng Mỹ phát triển vũ khí hạt nhân, 88 tỷ còn lại được sử dụng cho các hoạt động quân sự ở nước ngoài.
Đạo luật này có 2 điều khoản liên quan đến Trung Quốc, nhưng đã được che đậy rất khéo léo với vỏ bọc “ý kiến Quốc hội”, Tổng thống Mỹ không thể cưỡng lại. Trong 2 điều này, có 1 điều khoản là phía Hoa Kỳ công nhận quyền quản lý hành chính của Chính phủ Nhật Bản đối với các đảo và quần đảo của Nhật và nhắc lại cam kết “Mỹ phải đảm nhận bảo vệ an ninh cho Nhật Bản” được quy định trong điều thứ 5 của “Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ”.

Điều khoản thứ 2 có liên quan mật thiết đến Trung Quốc là Mỹ bán các máy bay chiến đấu tiên tiến F-16C/D hoặc một loại máy bay có tính năng tương tự cho Đài Loan - Trung Quốc.
__._,_.___

Lá Thư Úc Châu
Chúc Thân hữu năm mới 2013 luôn An Lạc & May Mắn
Trang Thơ Nhạc đầu năm
1.
Nhạc:
Xa Vắng
Nhạc: Y Vân
Tiếng hát: Bảo Yến
2.
Đọc:

  • Chuyện Thời sự (Nguyễn Thu Trâm: Việt sử và những mùa Xuân Dân tộc - Bs Lê Văn Sắc: Thư gởi Huỳnh Tấn Mẫm)
  • Chuyện Văn học (Văn Thơ cuối Năm từ Bạn bè gởi: Trần Mộng Tú - Nguyễn Đông Giang - Huy Uyên)

Tình thân,
Kính.

NNS
...............................................................................................................................
1.
Chuyện Thời sự
(i) Nguyễn Thu Trâm
Việt sử và những mùa Xuân Dân tộc

Trong tâm thức của người Việt, mùa xuân được coi là mùa của sự khở đầu, của sự phát triển, sự hồi sinh của cuộc sống mới và một chu kỳ sống mới lại bắt đầu, mặc dù mùa đông ở Việt Nam không quá lạnh giá và khắc nghiệt như ở một số nước ở hai đầu địa cực nhưng mùa đông cũng được xem là mùa sự kết thúc, của u buồn bởi sự sống của muôn vật dường như ngưng trệ trong chu kỳ này của thời gian. Chính vì vậy mà người Việt chúng ta tổ chức lễ đón mừng năm mới vào Tiết Nguyên Đán, mà dần dà bị biến âm thành Tết Nguyên Đán hay Tết, là lễ chào đón tân niên và bắt đầu cho một mùa lễ hội mới: Mùa Xuân.

Cũng bởi tâm thức này mà ngay khi vừa giành được độc lập ngắn ngủi thoát khỏi ách thống trị của Nhà Lương là Lương Vũ Đế vào tháng 2 năm 544, Lý Bí đã xưng là Lý Nam Đế và đặt quốc hiệu là Vạn Xuân với ước vọng đất nước chúng ta trường tồn mãi mãi.
Tất nhiên sự trường tồn của đất nước, của dân tộc không chỉ là ước vọng riêng của vị Hoàng Đế khai sáng nhà tiền Lý, mà đó cũng là ước vọng của toàn dân Việt. Cũng bởi ước vọng đó về một đất nước Vạn Xuân mà bao thế hệ cha ông chúng ta đã không tiếc máu xương, đã ngã xuống, vì nền độc lập, vì sự trường tồn của nòi giống.
Lịch sử Việt tộc đã gắn liền với nhiều mùa xuân với những chiến công oanh liệt hào hùng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Trong tinh thần ôn cố, tri tân, trong dịp xuân về này, chúng ta hãy điểm lại những mùa xuân cả hào hùng cả bi thương của dân tộc để chúng ta, những người Việt xa xứ và cả các thế hệ cháu con của chúng ta nữa sẽ không quên được bởi ai, vì đâu và tại sao chúng ta phải có mặt ở nơi này. Để chúng ta có thể đoán định về một tương lai cho mình, cho đất nước, cho dân tộc. Để chúng ta có thể hy vọng cho một mùa xuân hào hùng mới nữa của lịch sử dân tộc, đang đến, sẽ đến để chúng ta, những người Việt xa xứ, sẽ không còn phải sống đời lưu vong rồi phải gửi lại nắm xương tàn nơi xứ lạ, và đồng bào của chúng ta ở quốc nội cũng sẽ không còn sống đời lầm than, đói nghèo, tủi nhục và nhược hèn dưới ách thồng trị của bạo quyền.
Trước tiên là những mùa xuân hào hùng của dân tộc:
Có lẽ mùa xuân hào hùng đầu tiên của Việt Tộc là mùa xuân năm Đinh Tỵ 1077 với chiến thắng trên sông Như Nguyệt, Bắc Ninh khi Lý Thường Kiệt đánh bại đại quân xâm lược của nhà Tống là Tống Chiêu Ninh do Chiêu thảo Sứ Quách Quỳ và Triệu Tiết thống lĩnh, diễn ra từ ngày 18 tháng 1 đến đầu tháng 2 năm1077. Với chiến thắng này, quân dân Đại Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến phạt Tống, Bình Chiêm lần thứ II từ 1075 đến1077.
Mùa xuân năm Mậu Ngọ 1258 diễn ra cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ I, trong đó nhân dân làng Xối Đông xã Trung Đông, huyện Nam Ninh, Nam Hà đã tổ chức ba đồn binh cùng với một cánh quân của Nhà Trần đã đánh tan một đạo quân của Ô Mã Nhi ở cầu Vô Tình, khi chúng sang sông cướp phá, rồi tiếp theo là cuộc phản công bằng trận Đông Bộ Đầu ngày 29 tháng 1 năm 1258, đập tan âm mưu xâm lược Đại Việt của quân Nguyên-Mông.